NGUYỄN NGỌC HÒA
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
TIN TỨC»PHẬT PHÁP

Pháp âm trường hạ của Hòa Thượng Thiền Chủ Quan Âm Tu Viện chiều ngày 25/7/2019.

28/07/2019 08:44 1777

Hòa Thượng Pháp sư thường trực môn phong thượng Giác hạ Quang, đã giảng dạy về một số vấn đề trọng yếu liên quan đến giới, 10 việc tịnh của Ngài Da Xá và 5 việc của Ngài Đại Thiên, tư tưởng tiến bộ phù hợp trong các thời kỳ

Nguyên nhân phân phái đầu tiên trong Phật giáo Ấn Độ & kỳ kiết tập thứ hai

Do nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ Đề ra 10 điều phi pháp chủ trương là thích hợp với giới luật của Tỳ Kheo. Mười điều đó như sau:

1. “Diêm tịnh - muối tịnh.

2. Nhị chỉ tịnh – hai ngón tay tịnh.

3. Tụ lạc gian tịnh – giữa hai làng xóm tịnh.

4. Trú xứ tịnh.

5. Tùy ý tịnh.

6. Cửu trú tịnh.

7. Sanh hòa hợp tịnh.

8. Thủy tịnh.

9. Bất ích lũ Ni-sư-đàn tịnh.

10. Kim ngân tịnh”

Thời Gian, Địa Điểm, Số Lượng Tham Dự

Thời gian: Theo bộ sử tiểu phẩm (Cullavagga) thuộc Nam truyền Phật giáo, kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 2 diễn ra 100 năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn. Còn theo tinh thần Phật giáo bắc truyền là 110 năm sau đức Phật Niết bàn, dưới triều đại vua Kalasoka.

Địa điểm: Tại thành Phệ Xá Li (Vesali). Số lượng tham dự là 700 vị Tỳ Kheo.

Quá Trình Dẫn Đến Kỳ Kiết Tập

Kỳ kiết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Phệ Xá Li, một trăm năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn. Theo tiểu sử, các vị Tỳ Kheo tại thành Phệ Xá Li đề xướng ra 10 điều như trên. Trong lúc đó, ở phương Tây, có một học giả tinh thông giới luật, là trưởng lão Da Xá (Yasa) du hành tới thành Tỳ Xá Ly thấy các Tỳ Kheo nơi đây thực hành 10 điều ấy, Ngài rất kinh ngạc. Vì mục đích ngăn cản việc đó, nên đối trước tín đồ Ngài tuyên cáo: “Việc Tỷ-Khưu cầm tiền và nhận tiền là một cấm giới nghiêm trọng trong giới luật”

Các Tỳ Kheo cho rằng trưởng lão Da Xá làm phương hại uy tín và lăng mạ Tăng đoàn. Nên bắt trưởng lão phải sám hối trước Tăng chúng. Nhưng trưởng lão không nghe theo và trốn vào thành đối trước tín đồ Phật tử phát biểu 10 hành vi trên là phi pháp. Đại chúng thấy vậy liền triệu tập Tăng đoàn tác pháp tẩn xuất trưởng lão (theo luật Phật, nếu một Tỳ Kheo đem lỗi xấu của đại chúng công bố trước tín đồ Phật tử sẽ bị tẩn xuất ra khỏi Tăng đoàn, thu hồi tăng tịch). Trưởng lão Da Xá liền trở lại phương Tây vận động các bậc trưởng lão để giải quyết 10 điều trên.

Trưởng  lão Da Xá trước hết đi tới thành Kiều Tưởng Di (Kosambi) ở phương Tây và phái sứ giả đến các địa phương như Ma Thâu La (Mathura) và A Bàn Đề (Avanti) để cầu thỉnh các bậc trưởng lão và chính tự mình đi tới núi Ahoganga yết kiến trưởng lão Tam Phù Đà (Sambhuta) tới địa phương Sa Ha Xà Đế (Shaajati) hỏi ý kiến trưởng lão Ly Bà Đa (Revata) đều được sự tán đồng và cùng đi đến thành Tỳ Xá Ly. Sau khi đến thành Tỳ Xá Ly lại thỉnh cầu trưởng lão ở địa pương đó là Tát Bà Ca Ma (Sabhakami). Tất cả Tăng chúng ở hai phía Đông và Tây gồm có 700 vị hội hợp để kiết tập kinh điển và nghị quyết về 10 hành vi trên là phi pháp hay không phi pháp. Nhưng trong lúc hội nghị vì sinh nhiều ý kiến bất đồng không thể giải quyết ngay được nên hội nghị đồng ý tuyển chọn một ủy ban gồm tám vị A La Hán, bốn vị ở phía Đông là: Tát Bà Ca Ma, Sa Lưu, Khuất Xà Tu Tỳ Đa, Bát Tát Bà Già Mi. Bốn vị ở phía Tây: Ly Bà Đa, Tam Phù Đà, Da Xá, Tu Ma Na.Để quyết nghị 10 hành vi trên là phi pháp hay không phi pháp. Trưởng lão Ly Bà Đa, ủy viên của phương Tây nêu ra từng điều trong 10 điều để hỏi là hợp pháp hay phi pháp. Trưởng lão Tát Bà Ca Ma, ủy viên của phương Đông, y vào giới luật để xét từng điều một. Cuối cùng ủy ban quyết nghị 10 hành vi trên là phi pháp. Sau đó, hội nghị 700 Tỳ Kheo đã tiến hành tụng đọc lại Luật (Vinaya), Kinh (Sutta) và biên tập thành  Pitaka, Nikaya, Anga và Dharmakandha. Trải qua thời gian tám tháng mới hoàn thành. Nội dung của kỳ kiết tập này không chỉ dành riêng cho việc giải quyết 10 điều phi pháp mà còn để xác định lại giới pháp của đức Phật đã quy định để ngăn ngừa mọi phi pháp pha trộn.

Kết Quả

Đại hội nhất trí 10 điều đó là 10 điều phi pháp.

Theo Dipavamsa (Đảo Sử) thì có 10.000 vị Tỳ Kheo ở phương Đông không phục tòng nghị quyết về 10 điều kể trên là phi pháp nên cũng hội hợp tại một nơi khác cũng để kết tập kinh điển gọi là đại kết tập hay là đại chúng kết tập. Nội dung của cuộc kết tập là Kinh tạng, Luật tạng, Đại Pháp tạng và Tạp Tạng thành Bốn tạng và còn gọi là Ngũ tạng, có thêm Bồ Tát tạng.

Vì nguyên nhân trên, nên giáo đoàn của Phật giáo phân chia thành hai bộ phái là Thượng tọa bộ (Thera) và Đại Chúng bộ (Màhàsamghika). Thượng tọa bộ thuộc phái Bảo Thủ, Đại Chúng bộ thuộc phái Canh Tân.

Qua đó cho thấy ngay ở kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 2 đã có sự phân liệt về giáo đoàn Phật giáo. Đây là sự phân liệt về mặt giáo hội. Sau này khoảng 200 năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn, xuất khởi tân thuyết của Ngài đại thiên về 5 điều trược của vị A La Hán thì có sự phân liệt về mặt giáo lý và tiếp tục sau đó, Phật giáo Ấn Độ đi vào thời kỳ phân chia bộ phái. Tóm lại, nguyên nhân phân phái về giáo hội là do mười điều phi pháp, nguyên nhân phân liệt về giáo lý là giáo nghĩa tân thuyết “La Hán ngũ sự” của đại thiên.

Thời Gian Bộ Phái Ra Đời Và Vị Trí Của Kinh Tạng Pàli

Theo tiểu phẩm  (Cullvagga) khoảng hơn 100 năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn thì cuộc kiết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức nhằm để nghị quyết “thập phi pháp sự” của các Tỳ Kheo xứ Bạt Kỳ là đúng pháp hay phi pháp. Trong quá trình kiết tập, đã phát sinh nhiều ý kiến bất đồng. Nhưng cuối cùng đại hội kiết tập gồm 700 trăm vị Tỳ Kheo đã hoàn tất tốt đẹp, và đại hội nghị quyết 10 hành vi của Tỳ Kheo Xứ Bạt Kỳ là phi pháp.Theo Đảo Sử (Dipavamsa) thì có 10.000 Tỳ Kheo ở phương Đông không phục tòng nghị quyết về 10 điều kể trên là phi pháp nên đã hội hợp tại một nơi khác để kết tập kinh điển gọi là đại kết tập. Vì nguyên nhân trên, nên giáo đoàn Phật giáo phân chia thành hai bộ phái là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Như vậy sau khoảng 100 đến 110 năm sau đức Phật nhập diệt  là thời gian ra đời của các bộ phái Phật giáo Ấn Độ.

 

Theo sử liệu của Hữu bộ và Chánh lượng bộ, nguyên nhân phân phái là do trong Tăng chúng xuất hiện hai quan điểm khác nhau: một bên là ủng hộ “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán và một bên là phản đối “Năm việc” này. Và kết quả Tăng đoàn phân ly thành hai bộ: Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda). Những người khởi xướng và ủng hộ “Năm việc” (pañcavastu) này cho rằng: 1. A-la-hán, tuy không còn phiền não và xuất tinh nhưng trong giấc ngủ có thể bị ma vương quấy rối, làm cho xuất tinh; 2. A-la-hán vẫn còn nhiều điều không biết về những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày; 3. A-la-hán, tuy không còn nhiễm ô vô tri nhưng vẫn còn bất nhiễm ô vô tri; 4. A-la-hán vẫn còn nhờ người khác (Đức Phật) dẫn vào Thánh đạo và 5. A-la-hán cũng phải nhờ tiếng “Khổ” (phát ra trong lúc thiền định) mới vào Thánh đạo.

Nguyên nhân phân phái này được thuật lại trong tác phẩm Samayabhedoparacanacakra của ngài Thế Hữu (Vasumitra), một Đại Luận sư của Hữu bộ. Tác phẩm này có ba bản Hán dịch và một bản Tạng dịch. Cả ba bản Hán dịch đều đồng ý là: vào 116 năm sau Phật diệt độ, tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra), trong lúc vua A-dục đang trị vì cõi Diêm Phù Đề (Ấn Độ), có các chúng Tỳ-kheo, hoặc ba chúng tên: Năng, Nhân duyên, Đa văn (Thập bát bộ luận); hoặc bốn chúng: Đại quốc, Ngoại biên, Đa văn, Chủng đức (Bộ chấp dị luận) hoặc Long tượng, Biên đồ, Đa văn, Đại đức (Dị bộ tôn luân luận) ủng hộ và truyền bá “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh A-la-hán của những kẻ dị giáo. Do “Năm việc” này, Tăng chúng xảy ra bất đồng và dẫn đến Tăng đoàn phân ra thành hai: Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ (trong các bản Hán dịch là Thượng tọa bộ, nhưng trong bài này dùng từ Trưởng lão bộ (Sthaviravāda), để phân biệt với Thượng tọa bộ được dịch từ Theravāda). Hai bản Tần dịch và Lương dịch không đề cập tên tác giả của “Năm việc” này. Tuy nhiên, bản Đường dịch của ngài Huyền Trang có nêu tên tác giả khởi xướng “Năm việc” này, là Đại Thiên (Mahādeva), nên thường gọi là “Đại thiên ngũ sự”.

Các nhà Tỳ-bà-sa (Vibhāṣā) của Hữu bộ, trong A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa, cũng đồng ý rằng, “Năm việc” này là do Đại Thiên (Mahādeva) khởi xướng và là nguyên nhân phân phái đầu tiên này. Các nhà Tỳ-bà-sa còn đi xa hơn, viết thêm tiểu sử của Đại Thiên; theo đó, trước khi xuất gia, Đại Thiên phạm ba trọng tội ngũ nghịch: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán. Tuy nhiên, các luận sư này thừa nhận, sau khi xuất gia theo Phật, Đại Thiên là người thông minh, học nhiều hiểu rộng, được nhiều người kính trọng, kể cả vua quan và hàng quý tộc. Các luận sư, các nhà dịch thuật và chú giải Trung Hoa, như: Chân Đế, Cát Tạng, Huyền Trang, Khuy Cơ, cũng chấp nhận quan điểm của các Luận sư Hữu bộ về nguyên nhân phân giáo đầu tiên này. Tuy nhiên, ngài Khuy Cơ cho rằng Đại Thiên chỉ là nạn nhân bị tấn công từ các luận sư đối lập. Theo Khuy Cơ, Đại Thiên là một người thông tuệ, đạo cao đức trọng. Mặc dù tuổi còn trẻ, nhưng ngài đã chứng đạt quả vị tâm linh rất cao, được vua quan kính trọng, đồng đạo quý mến. Đó là lý do tại sao Đại Thiên bị quy gán ba tội ngũ nghịch, khi ngài đề xướng “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh A-la-hán.

Sử liệu liên quan của Chánh lượng bộ (Saṃmatīya) được ngài Thanh Biện (Bhavya hoặc Bhāvaviveka) ghi lại trong tác phẩm Tarkajvālā (Mdo XIX, tr. 162b 6-163; cf. Mdo XC, No. 12) vào thế kỷ thứ VI TL. Sau đó, những thông tin này được các sử gia Tây Tạng, Bu ston, thế kỷ XIV, Gzon nu dpal, thế kỷ thứ XV và Tāranātha, thế kỷ thứ XVII trích dẫn và thuật lại trong các tác phẩm lịch sử Phật giáo Ấn Độ của họ. Tuy nhiên, Thanh Biện cung cấp hai nguồn thông tin khác nhau liên quan đến lần phân phái lớn này. Theo nguồn sử liệu thứ nhất, 136 năm sau Phật diệt độ, trong giai đoạn trị vì của vua Nanda hoặc Mahāpadma, một Đại hội Tăng-già được nhóm họp để thảo luận về “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của A-la-hán, được khởi xướng bởi Tỳ-kheo tên Bhadra (một Tăng sĩ nổi tiếng). Do nguyên nhân này, Tăng đoàn bị phân rẽ. Và theo nguồn sử liệu thứ hai, 160 năm sau năm Đức Thế Tôn diệt độ, trong lúc vua A-dục (Aśoka) đang cai trị tại kinh thành Hoa Thị (Pāṭaliputra), Tăng đoàn đã khởi lên tranh luận về một số giáo nghĩa và dẫn đến phân rẽ thành hai bộ: Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ.

Như vậy, tuy những nguồn sử liệu của Hữu bộ (Sarvāstivāda) và Chánh lượng bộ (Saṃmatīya) thuật lại thời gian phân phái có khác nhau, hoặc năm 137 sau Phật diệt độ, trong thời kỳ vua Mahāpadma, hoặc năm 116 và 160 sau Phật diệt độ, trong thời kỳ vua A-dục (Aśoka); nhưng cả hai nguồn sử liệu này đều đồng ý nguyên nhân dẫn đến Tăng đoàn rạn nứt và phân rẽ thành hai bộ: Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ, là do bất đồng “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán.

Như chúng ta biết, khi Đức Thế Tôn còn tại thế, đã có hai lần cộng đồng Tỳ-kheo bị phân ly: một, do Đề-bà-Đạt-đa lãnh đạo, và một, do bất đồng quan điểm về một điều giới của hai vị Trưởng lão Tỳ-kheo tại Kosambi. Tuy hai lần phân giáo này, sau đó, đều được Đức Thế Tôn bằng nhiều phương cách khác nhau đã tái lập hòa hợp, nhưng cả hai lần phân giáo này có một đặc tính giống nhau là đều được dẫn dắt hoặc lãnh đạo bởi những Tỳ-kheo có ảnh hưởng hoặc uy tín trong cộng đồng Tỳ-kheo và quần chúng Phật tử. Lịch sử phân phái Phật giáo về sau cũng vậy. Hầu hết các lần phân phái đều được dẫn dắt hoặc lãnh đạo bởi một Tỳ-kheo hay một nhóm Tỳ-kheo có uy tín và ảnh hưởng lớn trong cộng đồng Tỳ-kheo hoặc quần chúng Phật tử. Lần phân phái giữa Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ có thể cũng vậy. Như đã đề cập ở trên, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ không phải là các Tỳ-kheo có ảnh hưởng và uy tín trong Tăng chúng và quần chúng Phật tử, nên họ không đủ khả năng lãnh đạo mười ngàn Tỳ-kheo, phân tách cộng đồng Tăng đoàn và thành lập Đại chúng bộ. Chỉ có những Tỳ-kheo như Đại Thiên hoặc các nhóm Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo đa văn, được Tăng chúng quý mến, có uy tín trong xã hội (như được tường thuật trong các nguồn sử liệu Sanskrit và Trung Hoa), mới có thể lãnh đạo các nhóm Tỳ-kheo ủng hộ quan điểm của họ và thành lập bộ phái mới: Đại chúng bộ.

Bất đồng quan điểm về giáo nghĩa, mà ở đây cụ thể là phẩm hạnh của A-la-hán, là những bất đồng và sau này là mâu thuẫn sâu nặng nhất giữa Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Các nhà Đại chúng bộ có quan điểm rằng Thánh quả A-la-hán chưa phải là quả vị viên mãn, chỉ có Phật quả mới là quả vị viên mãn. Họ ít quan tâm đến quả vị A-la-hán, mà quan tâm chính đến Phật quả. Theo các nhà Đại chúng bộ, và sau này là Đại thừa, muốn thành Phật quả, phải thực hành con đường của Bồ-tát. Cho nên, các nhà Đại chúng bộ xiển dương con đường của Bồ-tát. Con đường này khác biệt với con đường của Thanh văn A-la-hán. Ngược lại, các nhà Trưởng lão bộ xiển dương Thánh hạnh và Thánh quả của A-la-hán. Những khác biệt giữa quan điểm của Đại chúng bộ về Bồ-tát và quan điểm của Trưởng lão bộ về A-la-hán là những khác biệt xuyên suốt và chính yếu trong dòng lịch sử bộ phái Phật giáo Ấn Độ. Vì vậy, rất có thể, những bất đồng về phẩm chất của Thánh giả A-la-hán là nguyên nhân chính yếu và cuối cùng dẫn đến Tăng đoàn phân chia thành hai Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda).

Liên quan đến lần phân phái này, Giáo sư André Bareau, trong tác phẩm đối chiếu văn bản nổi tiếng, Các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa, cho rằng những dị biệt của Đại hội kết tập kinh điển tại thành Tỳ-xá-ly không thể là nguyên nhân làm cho Tăng đoàn phân phái. Vì nếu, tại thời điểm đó, Tăng đoàn đã phân ly thì chắc chắn các bộ luật của các bộ phái Phật giáo phải ghi lại thông tin quan trọng này. Và Giáo sư Bareau chấp nhận nguyên nhân phân phái đầu tiên của Tăng đoàn Phật giáo liên quan đến “Năm việc”, mà ông cho là do Đại Thiên khởi xướng. Và lần phân phái này, theo André Bareau, không thể xảy ra trong giai đoạn trị vì của vua A-dục (Aśoka) như tường thuật của ngài Thế Hữu. Nếu nó xảy ra trong thời gian vua A-dục trị vì, thì các sử liệu khác xưa hơn và thuộc các nguồn gốc khác nhau tại vùng Kasmir không thể không ghi lại danh tánh đức vua đại hộ pháp này, nhưng các nguồn sử này không nhắc đến tên vua A-dục liên quan đến lần phân phái này. Và vua A-dục không thể là đức vua trị vì trong khoảng đầu thế kỷ thứ hai sau Phật diệt độ. Giáo sư Bareau kết luận rằng lần phân phái này diễn ra trong khoảng năm 140 sau năm Đức Thế Tôn diệt độ, tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) dưới triều đại vua Nanda hoặc Mahāpadma do Tăng đoàn bất đồng về “Năm việc” của Đại Thiên.

Tuy nhiên, theo ngài Huyền Trang, nguyên nhân phân phái này bao gồm cả vấn đề tranh luận về giới luật và giáo nghĩa trong Tăng đoàn Phật giáo. Giáo sư Paul Demiéville cũng có cùng quan điểm như ngài Huyền Trang. Theo Demiéville, trong “A Propos du Concile de Vaiśāli”, nguyên nhân phân phái đầu tiên này bao gồm những bất đồng về “Mười điều” liên quan đến giới luật và “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của A-la-hán. Nhưng vì, các luật sư quan tâm đến giới luật hơn, nên họ chỉ ghi lại trong các bộ luật về Đại hội Tăng đoàn tại thành Tỳ-xá-ly (Vaiśālī) liên quan đến mười điều giới luật; và các luận sư quan tâm đến giáo nghĩa hơn, nên họ chỉ ghi lại trong các bộ luận về Đại hội Tăng đoàn tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) liên quan đến năm phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán. Tuy nhiên, Giáo sư J. Nattier và Charles S. Prebish phê bình giả thuyết của Demiéville. Theo họ, nếu giả thuyết của Demiéville là đúng, thì giải thích như thế nào về những tường thuật trong Xá-lợi-phất vấn kinh, một luận thư A-tỳ-đàm của Đại chúng bộ, theo đó, nguyên nhân phân phái giữa Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ liên quan đến giới luật. Và họ cho rằng, giả thuyết của Demiéville có chỗ chưa thuyết phục(18). Giáo sư Nalinaksha Dutt đưa ra một giả thuyết khác. Theo N. Dutt, có thể sự phân phái giữa Đại chúng bộ và Trưởng lão bộ bắt đầu từ những quan điểm khác biệt về một số giới điều (Mười điều của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ) và dần dần xuất hiện thêm những khác biệt về giáo nghĩa (Năm việc liên quan đến phẩm cách của A-la-hán).

Giáo sư J. Nattier và Charles S. Prebish đưa ra một giả thuyết khác, phủ nhận những giả thuyết liên quan đến “Mười điều” cho phép của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ và “Năm việc” đề cập đến tính chất của A-la-hán. Theo hai giáo sư này, nội dung “Năm việc” này, đặc biệt là nội dung thứ năm liên quan đến “Khổ” thánh đế của Thánh giả A-la-hán, trong thời gian đầu, không xuất hiện trong các chi phái của Đại chúng bộ ở phía Bắc, chỉ được tranh luận và truyền bá trong các chi phái của Đại chúng bộ tại phía Nam, quanh vùng Andhra. Vì vậy, họ phủ nhận giả thuyết cho rằng bất đồng về năm phẩm hạnh của A-la-hán là nguyên nhân phân phái chính. Theo họ, nó chỉ là nguyên nhân phân phái phụ trong các chi phái Đại chúng bộ tại phía Nam Ấn Độ, do Đại Thiên khởi xướng và truyền bá. J. Nattier và Charles S. Prebish cũng đồng ý cách đánh giá của Giáo sư É. Lamotte về nguồn sử liệu đề cập đến nguyên nhân phân phái chính được tường thuật trong Đảo sử (Dīpavaṃsa). Vì vậy, hai giáo sư này phủ nhận nguyên nhân phân phái được tường thuật trong Đảo sử. Giả thuyết của J. Nattier & Charles S. Prebish dựa vào nguồn sử liệu được đề cập trong kinh Xá-lợi-phất vấn. Kinh này được xem là một luận thư của Đại chúng bộ, và được học giả André Bareau đánh giá là một trong những nguồn sử liệu sớm nhất về lịch sử bộ phái Phật giáo Ấn Độ. Theo kinh này, lúc bấy giờ, có một Trưởng lão Tỳ-kheo đem luật tạng được kết tập trong Đại hội do ngài Đại Ca-diếp chủ trì, phân loại lại và bổ sung thêm một số giới điều. Do nguyên nhân này, cộng đồng Tỳ-kheo Tăng khởi lên bất hòa. Họ nhờ vua nước này đứng ra phân xử đúng sai. Nhà vua và Tăng chúng quy định, những Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống do ngài Đại Ca-diếp kết tập thì chọn thẻ màu đen, những Tỳ-kheo chấp nhận giới luật được thêm vào thì chọn thẻ màu trắng. Kết quả là số thẻ màu đen có đến 10 ngàn, còn số thẻ màu trắng chỉ có 100. Vua nước này kết luận rằng, cả hai đều tuân giữ đúng theo tinh thần giới luật của Đức Thế Tôn giảng dạy, nhưng vì có một số khác biệt nên không thể sống chung. Vì vậy, cộng đồng Tỳ-kheo phân chia thành hai bộ phái. Mười ngàn Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống thành lập Đại chúng bộ. Số Tỳ-kheo kia thành lập Thượng tọa bộ (Trưởng lão bộ). Kinh này không đề cập tên vị vua trì vị lúc bấy giờ, nhưng Giáo sư É. Lamotte nhận dạng vua này là vua A-dục (Aśoka). Như vậy, theo nội dung tường thuật trong kinh này, nguyên nhân phân phái là do cộng đồng Phật giáo nguyên thủy bất đồng về việc mở rộng một số giới điều trong giới bổn và Đại chúng bộ là bộ phái giữ gìn giới bổn truyền thống do Tôn giả Upāli và Đại tăng kết tập tại thành Vương Xá.

Trong thực tế, so sánh các luật tạng hiện còn của các bộ phái, chúng ta thấy rằng luật Ma-ha Tăng-kỳ của Đại chúng bộ có số giới điều ít nhất: 218 giới. Cụ thể là các Pháp chúng học (Śaikṣa - dharmas) trong giới bổn Tỳ-kheo của các bộ luật. Pháp chúng học của Ma-ha Tăng-kỳ chỉ có 66 giới; trong khi luật Pāli: 75, Tứ phần luật: 100, Thập tụng: 113, Căn bản nhất thiết hữu bộ: 108. Và nhiều học giả, trong những tác phẩm nghiên cứu về giới bổn Tỳ-kheo của họ, nhận định rằng giới bổn Ma-ha Tăng-kỳ của Đại chúng bộ có niên đại sớm nhất.

Vì vậy, theo J. Nattier & Charles S. Prebish, rất có thể sau Đại hội kết tập kinh điển tại thành Tỳ-xá-ly, các cộng đồng Tỳ-kheo tại các địa phương lo sợ Tăng đoàn sẽ phân ly, nên nỗ lực điều chỉnh một số tiểu giới mà Đức Thế Tôn cho phép thêm giảm cho phù hợp với từng địa phương để giữ cho Tăng đoàn không bị phân chia. Nhưng những nỗ lực này không như ý nguyện của họ, dần dần các cộng đồng địa phương càng nhiều khác biệt về giới luật, Tăng đoàn càng thêm bất đồng và cuối cùng là phân phái. Hai giáo sư này kết luận nguyên nhân tách phân Tăng đoàn Phật giáo liên quan đến việc bổ sung giới điều trong giới bổn, mà cụ thể là những giới điều thuộc Pháp chúng học và thời gian xảy ra lần phân phái này là vào năm 116 sau Phật diệt độ.

Như trên đã trình bày, Thượng tọa bộ, theo Đảo sử, thì cho rằng bộ phái gốc của mình (Trưởng lão bộ) gồm những Trưởng lão Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống và thanh tịnh; và ngược lại, Đại chúng bộ, theo kinh Xá-lợi-phất vấn, cũng tường thuật bộ phái mình là bộ phái gồm những số đông Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống và thanh tịnh. Những tường thuật này phản ánh một phần quan điểm chủ quan của bộ phái. Thật không dễ để kết luận nguyên nhân và thời gian chính xác dẫn đến phân ly giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda).

Tài liệu tham khảo

1. Luật Tứ phần, quyển 6, Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng dịch Việt, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng hiệu đính và chú thích, đăng trên trang mạng Phật Việt.

2. Luật Ma-ha Tăng-kỳ, HT.Thích Phước Sơn dịch Việt, đăng trên trang mạng Quảng Đức.

3. Tiểu phẩm (Cullavagga), Tỳ khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch Việt, đăng trên trang mạng Budsas .

4. Dị bộ tông luân luận, HT.Thích Trí Quang dịch Việt, đăng trên trang mạng Đạo Phật Ngày nay.

5. The Great Chronicle of Sri Lanka (Mahāvaṃsa), Ananda W. P. Guruge dịch, Colombo: S. Godage & Brothers, 2006.

6. Étienne Lamotte, History of Indian Buddhism, translated from the French by Sara Webb-Boin, Louvaun-la-neuve, 1988.

7. N. Dutt, Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass, 1998.

8. Studies of Buddhism, G. Prasad chủ biên, Delhi: NXB. Bharatiya Kala Prakashan, 2006.

9. J. Nattier & Charles S. Presbish, “Mahāsāṃghika Origins: the Beginning of Buddhist Sectarianism” trong Buddhism Critical Concepts in Religious Studies, tập. II, do Paul William chủ biên, London & New York: NXB. Routledge, 2005.

 

BÀI VIẾT MỚI

  • TÔN SƯ PHÁP NGỮ
  • Vesak 2025: Cung Thỉnh Xá-Lợi Đức Phật từ Ấn Độ về Việt Nam.
  • Diễn văn Đại lễ Phật đản PL.2569 - DL.2025
  • Thông điệp Đại lễ Phật đản PL.2569 – DL.2025
  • Thông báo: Lễ Húy Kỵ Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện hạ Phước lần thứ 36

Danh sách tin tức

  • TÔN SƯ PHÁP NGỮ
  • Vesak 2025: Cung Thỉnh Xá-Lợi Đức Phật từ Ấn Độ về Việt Nam.
  • Diễn văn Đại lễ Phật đản PL.2569 - DL.2025
  • Thông điệp Đại lễ Phật đản PL.2569 – DL.2025
  • Thông báo: Lễ Húy Kỵ Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện hạ Phước lần thứ 36
  • Biên Hòa: Lễ Tự Tứ Mãn Hạ Tại Tổ Đình Quan Âm Tu Viện.
  • Đồng Nai: Nội Quy và Chương Trình Đại Giới Đàng Đạt Thanh - PL.2567
  • Thông bạch: Việc tổ chức Đại lễ Phật đản PL.2568 – DL.2024 của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai
  • Kính Tưởng Niệm Ngày Đức Phật nhập Niết Bàn(15/2)
  • Kỷ Niệm Ngày Phật Thích Ca Xuất Gia (Mùng 8 Tháng 2 Âm Lịch)
    HT Thượng Bửu hạ Đức, HT Thượng Thiện hạ Phước
    NT Thích nữ Thượng Huệ hạ Giác, HT Thích Giác Quang
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn Sư (32)
    Cái Đẹp Của Người Tu

CHƯ TÔN ĐỨC NON BỒNG

  • Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức
    Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức

    Hành trạng của Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức chứng minh đạo sư Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (1880-1974)  

    Chi tiết
  • Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước
    Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước

    Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng THIỆN hạ PHƯỚC húy NHỰT Ý, dòng LÂM TẾ thứ 41, Sáng lập và là Tông chủ môn phong pháp phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước
    Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước

    Chi tiết
  • Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành
    Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành

    Chi tiết
  • Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng
    Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng

    Chi tiết
  • Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng
    Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
    Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa
    Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa

    Tiểu sử Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Hòa húy Trung Viên trụ trì Tổ Đình Linh Sơn

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác
    Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác

    Chi tiết
  • Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.
    Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

CÁC NGÔI TỰ VIỆN NON BỒNG

  • Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh
    Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh

    Tổ Đình Linh Sơn nằm bên sườn Tây núi Dinh, ngọn núi này nằm trong dải Bao Quan. Trên bản đồ địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đỉnh Bao Quan chỉ cách Thị Xã Bà Rịa khoảng 10 km đường chim bay và nằm về phía Tây Nam của Thị xã.

    Chi tiết
  • Tổ Đình Quan Âm Tu Viện
    Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

    Quan Âm tu viện tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tu viện được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn Hóa tôn giáo công nhận là di sản văn hóa Phật giáo tỉnh Đồng Nai ngày 15/3/2016, được Ban Tôn giáo Chính phủ ra quyết định tặng Giấy khen “Có thành tích trong công tác từ thiện xã hội và góp phần bảo vệ văn hóa tôn giáo” ký ngày 02/12/2016.

    Chi tiết
  • Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.
    Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.

    Chi tiết
  • DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL 2570 - DL 2026

CÁC WEBSITE PHẬT GIÁO

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  2. Báo Giác Ngộ 
  3. Ban Tôn Giáo Chính Phủ
  4. Đặc san Hoa Đàm
  5. Phật Giáo Tp. Biên Hoa
  6. Phật sự online
  7. Đạo Phật Ngày Nay
  8. Phật Giáo Đồng Nai

    Không có video thuộc chủ đề này.
Mừng Xuân Di Lặc 2019
Banner header
Kỷ Niệm Lễ Xuất Gia Đức Thầy (2019)
Phát quà Tại Tổ Đình Thành An Tự
Phát quà từ thiện
Phát quà cho đồng bào ở Tây Bắc
Trồng cây
Phát quà từ thiện

Footer

QUAN ÂM TU VIỆN
2567 Nguyễn Ái Quốc, phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0933045996 - 0908192876
E-mail: lientongtinhdo@gmail.com
Copyright ©