Lễ Húy Kỵ Tưởng Niệm Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huệ Hải
LỄ HÚY KỴ TƯỞNG NIỆM
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ HẢI,
HÚY TRUNG CHẤT DÒNG LÂM TẾ THỨ 43,
GIÁO PHẨM CHỨNG MINH HỘI ĐỒNG TÔNG PHONG LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG;
PHÓ TRỤ TRÌ TỔ ĐÌNH LINH SƠN, TRỤ TRÌ CHÙA TỊNH ĐỘ
VIÊN TỊCH NGÀY 12/6/MẬU TUẤT (24/7/2018)
I. THÂN THẾ GIA PHONG:
Hòa Thượng Thích Huệ Hải tên thật là Phạm Hữu Chất, sinh tháng 6, năm 1940 tại làng Long Hậu Tây, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, miền Trung Du Nam Phần Việt Nam, trong một gia đình nề nếp nho phong. Sư thuộc lớp người xưa được sanh ra và lớn lên trong gia đình uyên thâm Nho học. Thân phụ là Cụ Ông Phạm Văn Hơn, cũng xuất gia, tức Trưởng Lão Thích Từ Đức, giáo phẩm chứng minh môn phong Tịnh Độ Non Bồng viên tịch năm Mậu Thìn (1988). Thân Mẫu là Cụ Bà Trần Thị Huê là Phật tử Tịnh Độ Non Bồng qua đời vào năm 1970 tại Linh Đức Bửu tự. Gia phong còn 5 anh chị em vào năm 1960 Thân phụ đã đem cả gia đình về tu hành tại Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thân phụ của Sư trước khi quy y Tam Bảo với Đức Tôn sư Mẫu Trầu Bồng Lai vào năm 1934, đã là người tu tại gia, phát tâm tu trì danh niệm Phật, giữ gìn trai giới, tinh thông kinh điển Đại thừa Phật Giáo thuộc trường phái Tế Thượng Chánh Tông. Đồng thời do sự kết hợp tu học giữa Phật và Khổng lần lượt đi đến chỗ tự lập ra phái Đà La Ni.
Hướng đẫn tín đồ học Phật tu nhơn, “giữ gìn trường chay giới sát”.
Sanh thời, Sư được giáo dục trong môi trường rất kỷ cương, sống có nề nếp, không luận nam hay nữ đều phải học những tín điều đạo đức truyền thống của đạo làm người “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, chính đây là đạo nghĩa, đúng phẩm chất của người dân Việt vùng nông thôn, kể từ khi người Việt đi mở rộng đất phương Nam, đấy cũng là tính nhân bản của con người. Những lúc giảng dạy đạo lý cương thường cho Phật tử. Sư thường đứng ở gốc độ hình nhi thượng của Khổng học, giáo lý Kim Cang bát nhã tinh thần tứ nhiếp của Phật học nhắc nhở, như câu “Dục tu tiên đạo, tiên tu nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ…”, hay trùng tuyên lời của Đức Tôn sư Mẫu Trầu “ăn thật, nói thật, làm thật, chân thật bất hư”, “cố gắng ăn chay, niệm Phật, không sát sanh...”
Học phái Đà La Ni của thân phụ tuy không có tổ chức hành chánh Giáo Hội quy mô, nhưng sanh hoạt tu hành rất sâu rộng trong các vùng Chợ Lớn, Long An, cho đến miền Tây... rất được đại chúng tín ngưỡng, học hỏi.
II. XUẤT GIA TU HỌC:
Sư tính tình phóng khoáng thích ngao du giữa trời đất mênh mông, Sư thường kể lại “khi còn trẻ ở nhà thích dong chơi cùng sông nước, thường dùng ghe thuyền thả thính đi đây đó ngâm nga ca kệ thơ phú. Khi viết mấy dòng nầy tôi nhớ lại vào năm 1973 khi giảng đạo tại Tây viện Quan Âm tu viện, Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác có ban cho tôi bài thơ, nội dung gần gủi với tâm tư của Sư:
Trường giang mênh mông hề thuyền ta lướt
Sống dập gió dồi hề thuyền chảy xuôi
Tiểu nhơn quân tử hề cùng ta lướt
Giữa cảnh trần gian hề như phù du.
Mùa xuân năm Canh Tý (1960), Sư và anh chị em lớn nhỏ theo chân thân phụ thân mẫu về núi xin quy y với Đức Tôn sư Mẫu Trầu tu hành, Sư có điểm đặc biệt do ân điển ơn trên độ trì, nên dù mới tu nhưng tiếng pháp của Sư rất có lực, cộng với sự thông minh lợi khẩu sẳn có, Sư thường xuất khẩu thành thơ khuyến mọi người tu tĩnh, Đức Tôn sư ban cho pháp danh là Huệ Hải, Sư còn có biệt hiệu là Sư Sáu Nhỏ thường nói chuyện vui khiến cho đại chúng ở đâu dù mới gặp Sư cũng đều hoan hỷ, năng giảng đạo huyền vi. Tất cả đều do Đức Tôn sư ban tặng. Tuy Thầy Tổ đặt tên cho như thế nhưng Sư rất lịch lãm, mẫn tiệp trong việc thuyết giảng.
Tổ đình Lnh Sơn bên cạnh sườn đồi núi non chớn chở, trên đỉnh là vùng non nước hữu tình, những suối nguồn thi đua nhau róc rách xuôi theo dòng chảy giữa lòng tịch dương. Lúc bấy giờ, gia đình Sư còn có người Chú ruột là Cụ Ông Phạm Văn Ích cùng các anh chị em của gia đình về ni cầu tu với Tôn sư Mẫu Trầu. Nhớ lại khi xưa Sư vừa nhập môn là được Đức Tôn sư giao việc Phật sự, hộ niệm đạo tràng cùng với 7 vị Sư ưu tú khác, thường trực tại Chánh điện phụng thờ ngôi Tam Bảo mười phương, dâng hương cúng nước, dẫn đại chúng Tăng Ni, Phật tử tụng kinh niệm Phật, lạy Phật. Sư có người em là Ni Sư Thích nữ Diệu Thọ làm Thị giả Đức Tôn sư cho đến khi thọ pháp y Khất sĩ hiện nay là giáo phẩm lãnh đạo Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Thọ giới:
Năm 1963 Sư cùng với 125 vị Sư Khất sĩ Non Bồng được thọ giới Sa Di tại Trường Sanh Phật tự, do Đức Tôn sư Hòa Thượng Thiện Phước Nhựt Ý chứng truyền. Năm 1965 Sư Thọ Tỳ kheo tại giới đàn Phổ Minh bửu tự, đường Hưng Phú, Quận Tám, Sai Gòn, do Hòa Thượng Thích Huệ Thế chứng truyền.
III. SỰ NGHIỆP PHẬT PHÁP:
Năm 1964 tham gia Đoàn Du Tăng Khất sĩ Non Bồng du phương khắp miền Nam, Trung nước Việt, Sư từng đến chùa Phổ Đà, Sa Đéc, Tịnh xá Long Thắng, Đồng Tháp hành đạo.
Năm 1965 Sư vâng lệnh Đức Tôn sư về hóa đạo tại xã Đa Phước, huyện Cần Giuộc góp phần xây dựng khai sơn Chùa Linh Hòa.
Sư cũng góp phần công sức trí tuệ của mình phụ lực với thân phụ tạo dựng khai sơn ngôi Tam bảo Linh Đức Bửu tự, Quận Tám, Tp.Hồ Chí Minh.
Năm 1966, Sư đến chứng minh và khai sơn chùa Long Phú, Rạch Vơi, xã Nhơn Đức, chùa Long Sơn ở Bình Hưng.
Sau này hòa bình (30/4/1975), Sư trở về núi và phụ lực khai sơn tạo dựng lại những gì dã mất, xây dựng Đạo Tràng để tiếp độ người tu hành. Hiện Đạo Tràng, tức là chùa Tịnh Độ do chính Sư làm Trụ Trì.
Riêng Điện Bồ Đề là hang đá lớn, một chứng nhân lịch sử tồn tại nền Phật Pháp Non Bồng lâu bền đối với người tu do Ni Sư Thích Nữ Diệu Thọ làm Trụ Trì.
Ngoài việc hành đạo xây dựng khai sơn chùa, Sư còn tham gia công tác từ thiện, là thành viên trong Ban Giám Đốc Cô nhi viện Phước Lộc Thọ, thuộc Ban Từ Thiện Xã Hội miền Đông, hỗ trợ cho hai cô nhi viện Phước Lộc Thọ (Phường Bửu Hòa) và cô nhi viện Từ Ái, xã Hiệp Hòa.
Đương vi chứng minh và hộ trì khóa tu niệm Phật “Bá Nhựt Trì Danh, Cầu sanh Tịnh độ”, 100 ngày tại Nhứt Nguyên bửu tự.
Tại Đại hội lần thứ hai của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng vào ngày 25 tháng 7 âl (năm 1988), Sư được cử làm Trưởng Ban Hoằng Pháp trong Hội đồng Tông phong. Giáo phẩm chứng minh môn phái Liên tông Tịnh Độ Non Bồng.
Đối với Giáo Hội, Sư là thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, chứng điệp Tăng tịch số 27.961. được tấn phong giáo phẩm Hòa Thượng tại đại hội Phật giáo toàn quốc khóa VI, nhiệm kỳ 2007-2012. Sư là đương vi Hộ đàn, Chứng đàn tại các giới đàn Huệ Thành, giới đàn Nguyên Thiều Siêu Bạch, giới đàn Minh Vật Nhất Tri do Ban trị sự GHPGVN tỉnh Đồng Nai tổ chức
IV. VIÊN TỊCH:
Kể từ khi cầu học đạo với Đức Tôn Sư Mẫu Trầu đến nay, Sư là một trong những vị giáo phẩm ưu tú, đứng đầu trong hàng Tăng Non Bồng, thuộc bậc trưởng thượng trong Tông Phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, có niềm tin tuyệt đối với Tổ Thầy, rất tôn kính tin tưởng và hết lòng hộ trì Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác (là Trưởng Tử của Đức Tôn Sư Mẫu Trầu) trên bước đường hóa đạo từ 60 năm qua.
Ba năm gần đây Sư biết mình bệnh yếu, Sư luôn chuyên cần niệm Phật, gần gủi huynh đệ nhiều hơn trước, nhắc nhở chư Tăng Ni hậu tấn, giữ tròn phạm hạnh, tịnh hạnh noi gương các bậc tiên đức, sống thanh bần lạc đạo, chính Sư cũng là tu sĩ gương mẫu, tôn túc của chư Tăng Ni tại các Tự Viện Tịnh Độ Non Bồng, được chư Tăng Ni tôn quý nể vì. Sư luôn biểu hiện một ý chí sắt đá, cân nhắc đại chúng, bảo trì giáo pháp Thích Ca Mâu Ni Phật và giữ gìn giềng mối Tông Phong Non Bồng.
Sư là thành viên thường trực của Tịnh Độ Non Bồng thành tựu Phật sự hành đạo được Đức Tôn Sư Mẫu Trầu, Ni Trưởng Tông phong, chư Tăng Ni, Phật tử tin tưởng. Sư viên tịch vào lúc 15 giờ 30, ngày 12 tháng 6 năm Mậu Tuất, nhằm 24 tháng 7 năm 2018, hưởng thọ 78 tuổi đời, 54 hạ lạp, 58 tuổi xuất gia. Đại chúng vô cùng kinh tiếc, xây tháp cúng dường bậc hiếu tử Non Bồng dành cho hậu thế đảnh lễ soi chung.
Người khởi hành khi mở mắt chào đời
Chí tang bồng hồ hải khắp muôn nơi
Miểm cười thế sự mộng trong mộng
Thử xem sao phù phiếm lắm vậy mà
Phụng vì Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, Tứ Thập Tam Thế
Giác linh Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huệ Hải,
húy Trung Chất, ngưỡng nguyện giác linh
Trưởng lão Hòa Thượng thùy từ chứng giám






