NGUYỄN NGỌC HÒA
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ
  • TRANG CHỦ
  • PHẬT PHÁP
    • Bước đầu học Phật
      • Thái độ học Phật
    • Lịch Đại Tổ Sư
      • 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa
    • Tịnh Độ Tông
      • 13 Vị Tổ Sư
    • Giáo Pháp
  • ĐỨC PHẬT
    • Phật Đản
    • Nhân cách
    • Thành đạo
    • Thập đại đệ tử
      • Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp
      • Tôn Giả Mục Kiền Liên
      • Tôn Giả Phú Lâu Na
      • Tôn Giả Tu Bồ Đề
      • Tôn Giả Xá Lợi Phất
      • Tôn Giả La Hầu La
      • Tôn Giả A Nan
      • Tôn Giả Ưu Ba Ly
      • Tôn Giả A Na Luật
      • Tôn Giả Ca Chiên Diên
  • KINH PHẬT
    • Kinh
      • Kinh Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
      • Kinh A Di Đà Phật
      • Kinh Đại Bảo Tích
      • Kinh Hoa Nghiêm
      • Kinh Đại Bát Niết Bàn
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Trường Bộ
      • Kinh Tiểu Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán
      • Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    • Luật
      • Bộ Luật Tứ Phần
      • Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
      • Quy Sơn Cảnh Sách
    • Luận
      • Đại Thừa Khởi Tín Luận
      • Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
      • Trung Quán Luận
      • Đại Trí Độ Luận
  • DI SẢN PHẬT GIÁO
    • Di Sản Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
  • NON BỒNG
    • Tông Chỉ
      • Pháp Giáo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Nghi Thức
      • Nghi Thức Tụng Niệm Của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    • Ban Hoằng Pháp
  • TĂNG SỰ
  • VĂN HÓA - XÃ HỘI
  • TIN TỨC
    • Việt Nam
    • Quốc tế
    • Thông báo
  • GIÁO DỤC
  • TÀI LIỆU
    • TỦ SÁCH
  • PG & CÁC NGÀNH
    • Ẩm Thực Chay
  • PHÁP ÂM
  • TỪ THIỆN - XÃ HỘI
  • DIỄN ĐÀN
  • LIÊN HỆ

Hòa thượng Thiện Phước với Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

17/12/2019 14:34 5766

 Dẫn nhập

Tại vùng đồng bằng sông nước Tây Nam Bộ, có Đức Sư ông thượng Bửu hạ Đức, sinh năm 1880, trong một gia đình nông dân gia giáo hiền đức tu Phật tại tỉnh An Giang. Ngài thế phát xuất gia tu hành theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật ở An Sơn Tự – Châu Đốc. Một năm sau, Ngài về Ngọa Long Sơn – Ba Chúc dựng chùa Bửu Quang và bắt đầu tiếp Tăng độ chúng, tu hành theo pháp môn niệm Phật Tịnh độ. Đến năm 1954, Đức Sư ông truyền trao lại pháp môn niệm Phật cho một người đệ tử tên là Thích Thiện Phước rồi dạy người này đi về miền Đông Nam Bộ Việt Nam mà hành đạo. Tu sĩ Thiện Phước vâng theo lời dạy đức Sư ông thân hành về miền Đông Nam Bộ, tại Tổ đình Linh Sơn, núi Dinh, Bà Rịa – Vũng Tàu đã khai sơn Liên tông Tịnh độ Non Bồng, xiển dương Tịnh độ tông.

Nhìn lại Phật giáo Việt Nam trên dòng chảy dân tộc, đã hơn hai ngàn năm lịch sử xiển dương Thiền tông, Mật tông và Tịnh độ tông. Để khế hợp với hoàn cảnh từng địa phương, căn cơ trình độ của con người, từng thời đại, mà mỗi tông phái lớn chia ra thành nhiều môn phái nhỏ, đều có tông chỉ tu hành và đường lối hành đạo riêng biệt. Song tất cả đều không ra ngoài giáo pháp của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni. Vận hành theo tự nhiên của nhân sinh và vũ trụ bằng “phương tiện môn, tùy duyên bất biến”, Phật giáo trên thế gian vượt qua mọi chướng ngại để thể nhập vào đời sống thực tiễn làm lợi lạc cho con người và xã hội. Thể theo tinh thần đó, Liên tông Tịnh độ Non Bồng là một tông phái Phật giáo tu theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật, ra đời trên mảnh đất miền Đông Nam Bộ Việt Nam vào năm 1957. Từ ngày khai sơn, trên con đường nhập thế hành đạo, đã trải qua không ít khó khăn, nhưng Liên tông Tịnh độ Non Bồng cũng là một “pháp phái biệt truyền” của Phật giáo Việt Nam, đã đứng vững và thành tựu hoài bão hoằng truyền giáo pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca, góp phần làm cho Chánh pháp của Đức Từ Phụ tỏa sáng và trụ thế dài lâu. Đến nay, Liên tông Tịnh độ Non Bồng đã có được những bước phát triển đáng kể, với hệ thống hơn 170 ngôi tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường, phân bố khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam của Tổ quốc, cũng đã trở thành một trong những đề tài đáng được quan tâm khi nói đến Phật giáo Việt Nam.

Hòa thượng Thiện Phước khai sơn và phát triển Liên tông Tịnh độ Non Bồng

Hòa thượng Thiện Phước, thế danh là Lê Minh Ý, sinh ngày 01 tháng 7 năm Giáp Tý (1924). Là con thứ mười trong một gia đình nông dân gia giáo, từ nhỏ Ngài đã rất thông minh. Thân phụ Ngài là một nhà Nho, nên Hòa thượng sớm đã được dạy cho đầy đủ đạo phong Nho học, cả về Hán học cũng rất thông thạo. Cốt cách Ngài thanh cao lại rất khiêm cung, trong lòng lúc nào cũng mang một nỗi niềm ưu tư cho nhân thế. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng ý chí xuất gia lúc nào cũng ấp ủ trong lòng. Năm mười sáu tuổi, Ngài bắt đầu tìm hết chùa này đến chùa khác để hỏi đạo tu tập theo pháp môn niệm Phật, nung nấu hoài bão xuất ly thế tục, tìm cầu Phật đạo. Nhưng có lẽ căn lành chưa đến, chí nguyện chưa thành, đến năm 19 tuổi, vì chữ hiếu nên phải vâng lời thân phụ lập gia đình để có con nối dõi tông đường. Sau đó theo tiếng gọi của Tổ quốc Ngài tham gia vào hàng ngũ Cách mạng kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Tuy phải thuận theo duyên cảnh cuộc đời, nhưng trong lòng Ngài không bao giờ quên mất hoài bão xuất trần thượng sĩ. Đến năm 1954, sau khi làm xong nghĩa vụ với Tổ quốc, Ngài tìm về chùa Bửu Quang ở núi Dài, Châu Đốc tham học pháp môn Tịnh độ niệm Phật với Đức Sư ông thượng Bửu hạ Đức. Năm 1956, từ chùa Bửu Quang vùng Tây Nam Bộ, Ngài trở về chùa Long Sơn Cổ Tự ở Tân Ba, Tân Uyên, Bình Dương. Tại đây, Ngài được Đại lão Hòa thượng Trí Châu truyền cho pháp môn Thiền Tịnh song tu và chính thức trở thành môn đệ của hàng Lâm Tế Chánh tông. Từ đó trang sử mới, cũng là trang sử chính thức cuộc đời của Hòa thượng Thiện Phước bắt đầu mở ra. Ngài lưu lại Long Sơn Cổ Tự một thời gian để tiếp Tăng độ chúng. Những người theo Ngài học đạo rất đông, trong đó có một người đệ tử nữ, nhưng cốt cách hơn người, bản lĩnh và trí tuệ vượt trội số đông, chính vị nữ lưu này về sau là người tiếp nối và làm rạng rỡ pháp giáo Tịnh độ từ Đức ông Bửu Đức truyền cho Hòa thượng Thiện Phước. Vị nữ lưu đó thế danh là Nguyễn Thị Cưng, pháp danh là Huệ Giác.
Sau một thời gian hoằng pháp ở Long Sơn Cổ tự, Hòa thượng Thiện Phước lại thân hành về núi Dinh ở đất Bà Rịa – Vũng Tàu. Tại đây, Hòa thượng được vị thầy Trụ trì Tổ đình Linh Sơn tên là Yết Ma Sở giao lại Tổ đình cho Ngài làm Trụ trì. Lúc bấy giờ là vào cuối quý tư của năm 1957. Sau khi tiếp nhận Tổ đình Linh Sơn, Hòa thượng cùng với đồ chúng bắt đầu các Phật sự khai khẩn đất hoang, trồng nhiều loại cây ăn trái lâu năm, cây lấy gỗ dài hạn. Cảnh trí Non Bồng trở nên xanh tươi tràn đầy sức sống. Chùa, am cũng được Hòa thượng cho sửa sang lại rất trang nghiêm. Dùng cây rừng để làm Tăng xá cho Tăng Ni an trú tu hành.
Năm 1959, vào ngày mùng một tháng giêng, hội trưởng Trung ương Giáo hội Tịnh độ tông Việt Nam đã chấp thuận cho Hòa thượng chính thức khai sơn Liên tông Tịnh độ Non Bồng theo chứng minh thư số 78/TĐ.TƯ ngày 24/02/1959, để xương minh Tịnh độ tông. “Tôn sư chủ trương khuyến tấn đại chúng niệm Phật Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tu theo pháp hạnh Khất sĩ, truyền thống tu tập của ba đời chư Phật, nối thừa dòng pháp của Đức Sư ông Bửu Đức”. Niệm Phật Tịnh độ là một pháp tu mà Đức Phật đã thuyết giảng cho đệ tử tu tập khi Ngài còn tại thế. “Có một pháp, này các Tỷ – kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỷ – kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn”.
Theo thời gian, cũng như những pháp môn tu tập khác, niệm Phật được chư đệ tử Đức Phật thực tập và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đến cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, Bồ tát Long Thọ là vị khai tổ của Tam Luận tông, cũng là vị Tổ sư thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ, Ngài đã trước tác nhiều tác phẩm quan trọng như Đại trí độ luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận… Trong Đại Trí Độ Luận và Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận Ngài có khai thị về pháp môn Tịnh độ. Nhưng mãi đến thế kỷ VI, niệm Phật Tịnh độ đã truyền sang Trung Quốc khi Ngài Đạo An tiếp nhận và truyền đến Sơ tổ Lô Sơn Huệ Viễn. Bấy giờ, pháp môn niệm Phật mới bắt đầu thịnh hành và phát triển thành tông phái, với mười ba đời chư vị Tổ sư truyền thừa. Tịnh độ tông không chỉ phát triển ở Trung Quốc mà còn lan rộng ra các nơi khác như Nhật Bản, Đài Loan… trong đó có Việt Nam.

Vào thời Lý – Trần, Phật giáo chú trọng về Thiền tông, nhưng Tịnh độ tông cũng được lưu truyền trong nhân gian. Vào năm 1057, tại núi Lạng Kha, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Lang Tướng của vua Lý Thánh Tông xây chùa Phật Tích và tôn trí tượng Phật A Di Đà bằng đá cao 2,5 m, đây là nơi truyền bá pháp tu niệm Phật Tịnh độ.“ Theo dòng chân truyền của Việt Nam thì niệm Phật mà phảng phất lý thiền. Mục tiêu niệm Phật cầu vãng sanh ban đầu sẽ nhanh chóng trở thành giác ngộ trong hiện tại nếu người tu nhiếp được tâm thanh tịnh. Điều này được Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nói trong Cư Trần Lạc Đạo Phú: Tịnh độ là lòng sạch – chớ hỏi cảnh Tây phương – Di Đà là tâm sáng – chớ nhọc tìm Cực Lạc” (trích Tịnh độ lược giảng của HT. Giác Quang).

Cho đến thế kỷ XVIII, Tổ sư Nguyên Thiều thuộc thiền phái Lâm Tế đời thứ 33 bên Trung Quốc đến Việt Nam truyền đạo. Lúc bấy giờ, Ngài lưu lại ở thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thanh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định và xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, thờ Phật A Di Đà và dạy đồ chúng niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Sau đó, Ngài vào Huế và lập Tổ đình Quốc Ân, rồi Ngài lại vào miền Nam, tại huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai lập Tổ đình Quốc Ân Kim Cang để giáo hóa mọi người tu học và niệm Phật. Vị Thiền sư thứ hai có công khai sơn về pháp môn tu niệm Phật, thực hiện Thiền Tịnh song tu, đó là Thiền sư Liễu Quán, chùa Thiền Tôn ở Thành phố Huế. Ngày nay có Hòa thượng Thích Diệu Tâm nối thừa dòng kệ pháp môn, tu tại chùa Phi Lai, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Vào thời cận đại, cũng có các bậc danh Tăng hoằng truyền Tịnh độ như Hòa thượng Khánh Anh, Phật học đường Lưỡng Xuyên; Hòa thượng Trí Tịnh chùa Vạn Đức, Hòa thượng Hành Trụ chùa Chánh Giác, Gia Định,… Ngoài ra, còn có Hội Phật giáo Tịnh độ tông Việt Nam do học giả Đoàn Trung Còn, pháp danh Hồng Tại làm Hội trưởng. Trong giai đoạn này, pháp môn niệm Phật không chỉ lưu truyền trong Phật giáo chính tông, mà còn ảnh hưởng rất sâu rộng đến các tôn giáo bản địa ở vùng Tây Nam Bộ như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo…

Tiếp nối dòng pháp của Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, được truyền dạy từ Đức Sư ông Bửu Đức, Hòa thượng Thiện Phước đã khai sơn Liên tông Tịnh độ Non Bồng tại Tổ đình Linh Sơn, một ngôi chùa của vùng núi non u tịch thanh tịnh, phù hợp cho những ai muốn tu tịnh niệm hoặc tham thiền. Ngoài Tổ đình Linh Sơn là trung tâm chính, còn có các am, cốc, các hang động đẹp đều được Hòa thượng đặt tên tùy theo phong cảnh, “Mỗi chuyến du sơn tìm ra hang động đẹp, có cảnh non xanh thanh tú, có suối nước reo vui, thuận tiện cho người ẩn tu. Tôn sư cũng đặt tên theo phong cảnh đưa người tu đạt đến quả lành thánh thiện, như: Điện Ngũ Đài có cảnh trí cao vút, điện Địa Tạng có hang sâu, điện Kim Cang có đất bằng, vườn Bát Đức có đất đai, Quan Âm Phật điện, Bồ Đề Phật điện, Tào Khê Phật điện, Điện Bát Tiên, có những hang sâu có dòng nước ngầm chảy qua thì đặt là Thủy Sanh Phật điện, Thủy Ngân Phật điện, phong cảnh nên thơ đặt là Thiên Thai”. Từ ngày Hòa thượng về Linh Sơn, người người quy hướng tu hành rất đông. Tổ đình Linh Sơn lúc bấy giờ không chỉ là nơi tu hành của người tu sĩ, mà còn là nơi hậu cần của Giải Phóng Quân.

Do đó, Hòa thượng và chư Tăng Ni ngoài việc tu học, còn ủng hộ cho bộ đội bằng cách tiếp tế lương thực, thuốc men, cho mượn cơ sở chùa để anh em Cách mạng học tập. Thời kỳ đất nước còn chiến tranh loạn lạc, trong nhân thế biết bao cảnh khổ đau không nói nên lời, nhiều cảnh đời sanh ra không cha, không mẹ, không nhà, không người thân, không biết nương tựa ai, sống cù bất cù bơ. Lúc bấy giờ, với lòng từ bi vô hạn, Hòa thượng đã phái Ni trưởng Huệ Giác thành lập Cô nhi viện Phước Lộc Thọ để cưu mang nuôi dạy các cháu cô nhi vào năm 1960.

Cũng vì Hòa thượng nuôi cô nhi rồi thương cô nhi như một người mẹ thương con, mọi người thường gọi Hòa thượng một cách thân thương là mẹ, Hòa thượng có thói quen hay ăn trầu, từ đó các đệ tử vì quá kính thương Ngài nên mới gọi là Mẹ Trầu. Lúc đó, vì Ngài che chở cho bộ đội, Tổ đình Linh Sơn là nơi chốt bàn đạp đường dây Liên khu 5 Biệt động thành, công tác hoạt động Thành đoàn… Chính vì vậy, Ngài bị binh giặc truy tìm, để đánh lạc hướng giặc, nên Hòa thượng cho con cháu gọi Ngài là Mẹ Trầu. Người sau nghe danh hiệu Mẹ Trầu thì gọi lái sang là Mẫu Trầu. Được sự che chở của Mẹ Trầu và các Sư giàu tình thương yêu ở Tổ đình Linh Sơn, 300 cháu cô nhi được bảo bọc, nuôi dưỡng theo tinh thần từ bi của đạo Phật. Nguồn lương thực do Hòa thượng và chư Tăng, Ni tự cung tự cấp, cũng có vài vị Phật tử gần gũi thuần thành giúp đỡ đôi chút. Ngoài ra, Hòa thượng tuyệt đối không nhận bất cứ một nguồn tài trợ nào của chính quyền hay của nước ngoài.

 

Ngày mùng 01/02/1961, Hòa thượng Thiện Phước cho xây dựng Tịnh xá Khất sĩ và Quan Âm Phật tự để chư Tăng Khất sĩ an trú tu học.

Vào ngày mùng 08/4 cùng năm, Hòa thượng thành lập Đoàn Du Tăng Khất sĩ Non Bồng tại Tổ đình Linh Sơn ở núi Dinh, Hòa thượng Thiện Phước là người đầu tiên lãnh đạo giáo đoàn. Lúc bấy giờ, Hòa thượng Thiện Phước đã thỉnh quý Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni ở các giáo đoàn bạn đang nhập thất tu tịnh tại Tổ đình cùng với chư Tôn đức trong môn phong làm lễ truyền giới ban pháp y cho Tăng Ni.

Lễ truyền Pháp y được diễn ra cho khoảng 120 giới tử, rất thành kính và trang nghiêm, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thiện Phước, chư Tăng Trưởng bối trong môn phong, chư Tôn ở trong đạo Phật Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nam Việt, Giáo hội Khất sĩ Đại Sư Huệ Nhật.

Đoàn Du Tăng Khất sĩ Non Bồng đến nay vẫn đứng vững vàng dưới sự hộ trì của Hòa thượng thượng Giác hạ Quang. Nhiều vị Tăng Ni trẻ xuất gia tu học tại Quan Âm Tu viện đều phát tâm thọ trì pháp y Khất sĩ Non Bồng.

Đến ngày mùng 08/4 năm Nhâm Dần (1962), tại nơi đây sau khi khai sơn Liên tông Tịnh độ Non Bồng, Đoàn Du Tăng Khất sĩ Non Bồng tiếp tục thành lập Phật học đường Tây phương Bồng Đảo, đào tạo Tăng tài hoằng dương Phật pháp. Hòa thượng Thiện Phước cho mời các Giáo thọ sư ở Giáo hội Tăng già Nam Việt, chư Giáo thọ sư thuộc đệ tử của Hòa thượng Khánh Anh, chư Giáo thọ sư thuộc Giáo hội Tăng già Khất sĩ và chư Giáo thọ trong Tông môn cộng tác giảng dạy, Phật học đường đã tụ hội trên 300 Tăng Ni tùng học.

Hòa thượng Thiện Phước dạy: “Trong ba môn Văn, Tư, Tu, thuộc về trí huệ môn, có nghe pháp thì trí thông tuệ sáng, có tư duy chín chắn thì việc hành đạo đúng Chánh pháp, có tu tập thiền tụng, niệm Phật mới thể hiện được hạnh lành, thực tiễn phổ hóa quần sanh. Người Thích tử phải thực hiện tu tập đầy đủ ba môn Văn Tư Tu, vì chính đó dẫn đến chứng nhập Vô trụ xứ Niết bàn…” Vì thế, nên ngoài việc mở trường Phật học để đào tạo tăng tài, Hòa thượng còn khuyên mọi người phải thật đức tu hành Pháp môn niệm Phật. Đối với Hội Tịnh độ Tông Việt Nam Ngài rất ủng hộ, thường cho tất cả các đệ tử tham gia làm thành viên của Hội Tịnh độ Tông, 2/3 thành viên của Hội là đệ tử của Hòa thượng Thiện Phước. Bên cạnh đó, để thể hiện hạnh lành, tín nguyện tu niệm Phật, tại Tổ đình Linh Sơn, dưới sự thỉnh cầu của chư Tôn đức Tăng Ni ở Phật học đường Tây phương Bồng Đảo, Hòa thượng Thiện Phước đã cho mở khóa tu “Bá nhật trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tịnh độ”.

Hòa thượng Thiện Phước cùng chư Tăng Ni tu học ở Tổ đình Linh Sơn vừa tu học Phật đạo, vừa tiếp tế, ủng hộ cho cách mạng kháng chiến, vì vậy mà từ năm 1963 đến 1964, Tổ đình liên tục bị máy bay giặc rà soát, cho đến ngày 30 tháng 7 năm Ất Tỵ (1965) Tổ đình Linh Sơn, Phật học đường Tây phương Bồng Đảo cùng Cô nhi viện Phước Lộc Thọ… tất cả đều bị một trận mưa bom của giặc tàn phá hoàn toàn. Trong phút chốc, mọi thứ đều đổ nát thành gạch vụn, tro tàn, các em cô nhi và Tăng Ni có 12 người tử vong và 30 người thương tích nặng. Một trong những người chứng kiến cảnh thương tang pháp nạn Non Bồng này là Sư bà Diệu Thọ. Lúc bấy giờ, Sư bà theo Hòa thượng Thiện Phước và Ni trưởng tu học trên núi, là một trong những người chị lớn, chăm lo cho các em nhỏ cô nhi. Nhắc đến ngày đó, Sư bà đến nay vẫn không khỏi ngậm ngùi:

… Bồng Đảo thương tang lệ nhỏ xa
Nỗi buồn gieo rắc bao lòng trẻ
Thương tưởng nhớ nhung bóng mẹ già
Công đức bao năm như nước chảy
Bồng Đảo một ngày hóa tha ma…

Sau pháp nạn, Tổ đình Linh Sơn không thể lưu trú tu học được nữa, Hòa thượng Thiện Phước đành phải cho chư Tăng Ni và các cháu cô nhi tản cư về các chùa Phước Thiện An ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nhứt Nguyên Bửu Tự ở Bình Dương… để tiếp tục tu học. Tổ đình Linh Sơn tuy đã tàn lụi, nhưng tinh thần bách trượng, ý chí kiên cường của Hòa thượng, cùng với các đệ tử, không bao giờ chịu khuất phục, sau cơn đau thương trên cõi Non Bồng trở lại thế gian, họ vẫn vươn mình như những bông hoa Linh Thoại ngàn năm bất diệt.
Năm 1966, thấy cảnh đất nước còn chiến tranh, nhân dân lầm than, Đạo pháp thì phải trải qua biết bao khổ ải, vì lòng thương nước, mến dân, yêu đạo Hòa thượng Thiện Phước đã lập chí khổ hạnh để cầu nguyện “Ngày thời ngồi phía trước hiên chùa, đêm đến tọa thiền sau hiên hậu đường”, đủ mọi tư thế tọa thiền Niệm Phật, mặc cho nắng táp mưa sa, nhưng Tôn sư vẫn điềm nhiên tọa thiền để hồi hướng cho tương lai đất nước, cho Đạo pháp và Dân tộc. Có lần Ngài quá khổ hạnh như thế, sanh bệnh, Tăng Ni, Phật tử thỉnh cầu Ngài vào tịnh thất nghỉ ngơi, thì Ngài dạy: “Mọi người còn khổ, còn ngèo đói, còn tha hương, đất nước còn gian khó ta không thể sung sướng an vui được.”

Ngày 08/8/1966, tại Nhất Nguyên Bửu Tự, tiếp tục khai khóa “Bá Nhựt Trì Danh Niệm Phật”. Cũng trong năm này, Hòa thượng cho xây dựng Quan Âm Tu viện (Bửu Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai), để có nơi trang nghiêm cho chư Tăng Ni an trú tu học và nuôi dưỡng người già neo đơn. Cô nhi viện Phước Lộc Thọ ở chùa Phước Thiện An cũng được dời về Quan Âm Tu viện vào năm 1968.

Trường Trung Tiểu học Lâm Tỳ Ni cũng được thành lập tại Quan Âm Tu viện, để dạy văn hóa cho các em cô nhi. Mở lớp giáo lý căn bản Tịnh độ tông, tổ chức quản lý hành chính Giáo hội, thuyết pháp giảng kinh, mở thư viện và mọi cơ cấu đối ngoại đều được đặt tại Quan Âm Tu viện.

Đến năm 1969, thừa lệnh của Hòa thượng Thiện Phước, Sư bà Huệ Giác đã xuất dương đến Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông… để nghiên cứu về học thuật, xây dựng thiền môn, tự viện. Trở về Việt Nam, kết hợp với cấu trúc chùa Việt, họa đồ Quan Âm Tu viện hoàn chỉnh và giao cho Đại đức Thiện Chơn và Giác Châu chịu tránh nhiệm trang nghiêm xây dựng. Từ đó đến nay, Quan Âm Tu viện chính là trung tâm hoạt động chính của Liên tông Tịnh độ Non Bồng.

Ngày mùng 10/8 năm Đinh mùi (1967), dưới sự chứng minh của đức Sư ông thượng Bửu hạ Đức và Hòa thượng Thiện Phước, Ni sư Huệ Giác cùng chư Tôn đức mở cuộc họp hội đồng tông phong lần thứ nhất. Liên tông Tịnh độ Non Bồng, chính thức với các thành phần nhân sự:

– Sư ông Bửu Đức: Chứng minh.
– HT. Thích Thiện Phước: Tăng chủ.
– NT. Thích Nữ Huệ Giác: Cố vấn.
– ĐĐ. Thích Thiện Chơn: Tăng trưởng (tạm thời).
– ĐĐ. Thích Từ Quang: Tăng phó.
– ĐĐ. Thích Giác Châu: Chánh Tri sự.
– ĐĐ. Thích Thiện Thành: Phó Tri sự kiêm Tổng Thư ký.
– ĐĐ. Thích Giác Quang: Ban Liên trì Nhật tụng kiêm Xướng ngôn viên.
– ĐĐ. Thích Thiện Giác: Ban Hoằng pháp kiêm Ban Dược Sư và Xướng ngôn viên.
– ĐĐ. Thích Thiện Đức: Ban Trang nghiêm.
– ĐĐ. Thích Giác Khánh: Ban Ngoại vụ.
– ĐĐ. Thích Giác thông: Thủ bổn.
– ĐĐ. Thích Thiện Thọ: Kiểm soát.
– ĐĐ. Thích Thiện Chí: Kiểm soát.

Từ đây, chư Tăng Ni Liên tông Tịnh độ Non Bồng chính thức hoạt động Phật sự, hoằng dương Chánh pháp ở khắp mọi nơi theo tông chỉ của Liên tông Tịnh độ Non Bồng. Hàng trăm bước chân trên vạn nẻo đường, con cháu tông phong luôn thể hiện tinh thần kiên trung với Tổ Thầy, thủy chung với Đạo pháp, đem ánh đạo của Đức Phật Thích Ca đến với cuộc đời bằng “Phương tiện môn”.

Năm 1970, khai giảng lớp Phật học tại Long Sơn Cổ tự ở xã Tân Ba, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để dạy về giáo lý Tịnh độ và kinh luật do Ni trưởng Huệ Giác, Hòa thượng Giác Quang, Hòa thượng Huệ Tâm, Hòa thượng Thiện Giác phụ trách.
Năm 1971, mở lớp học giáo lý Tịnh độ cho Ni giới tại Tịnh xá Thắng Liên Hoa, xã Hiệp Hòa, Biên Hòa.

Năm 1973, mở lớp học giáo lý phổ thông và Pháp môn niệm Phật tại Nhất Nguyên Bửu Tự, Sau này trên tinh thần tu học tại chùa Nhất Nguyên, Hòa thượng Thích Giác Quang đã viết tác phẩm “Một trăm ngày niệm Phật và một trăm bài Pháp” rất ý nghĩa cho những ai tham dự khóa tu “Bá Nhựt Trì Danh Hiệu Phật” tại Nhứt Nguyên Bửu Tự, với kiến thức Phật học từ thấp lên cao, giúp cho người đọc hiểu rõ ràng, khúc chiết về đạo Phật, giáo lý Đức Phật, Pháp môn niệm Phật và về Liên tông Tịnh độ Non Bồng.

Bên cạnh việc khai mở các khóa tu, lớp học giáo lý, lớp học văn hóa, nuôi dưỡng người già, trẻ mồ côi.. Hòa thượng Thiện Phước còn cho xây dựng, tu sửa rất nhiều ngôi chùa, mà đến nay đều trở thành những danh lam như Long Sơn Cổ tự (xã Tân Ba, Tân Uyên, Bình Dương), Tịnh xá Thắng Liên Hoa (xã Hiệp Hòa), chùa Long Phước Thọ, chùa Long Phước Điền (xã Long Phước, Long Thành, Đồng Nai), Bửu Hoa Ni Viện (xã Phước Thái, Long Thành), Tổ đình Linh Sơn (Núi Dinh, Bà Rịa – Vũng Tàu)… Hòa thượng còn tu bồi cầu bến đò Long Kiểng, xây đắp hương lộ, khiến cho người dân nơi đây rất cảm mến thương yêu. Thành lập chín ban nông thiền tại các cơ sở Long Phước Thọ, Long Phước Điền, Bửu Hoa Ni Viện, Tổ đình Linh Sơn I, Tổ đình Linh Sơn II, Quan Âm Tu viện, Nhứt Nguyên Bửu Tự, Long Sơn Cổ tự, Tịnh xá Thắng Liên Hoa để khuyến khích tập thể chư Tăng Ni lao động sản xuất kinh tế nông thiền tự túc của nhà chùa. Năm 1975, Hòa thượng thường xuyên theo các Tăng Ni bất kể ngày đêm để động viên mọi người lao động sản xuất, trồng nhiều ruộng lúa, khoai ngô để đủ ăn, cũng như để đóng góp xây dựng kinh tế nước nhà sau chiến tranh. Ngài thường dạy: “Ta có khổ mới biết thương người khổ, ta có nghèo mới biết thương người nghèo, nếu là người tu phải phát nguyện đem tình thương sưởi ấm nhân loại”.

Năm 1981, dưới sự chỉ đạo của Hòa thượng, Tăng Ni, Phật tử Quan Âm Tu viện đã thực hiện chương trình “Trồng cây gây rừng, trồng cây nhớ ơn Bác”, lần đầu tiên đã trồng được 96 hecta rừng nhân tạo, gồm các loại như tràm bông vàng, bạch đàn, sao, dầu… Về sau Ni trưởng Huệ Giác tiếp tục công việc trồng rừng, không chỉ ở Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai, mà còn phát lên ở các tỉnh khác, như Bình Dương, Bình Phước, Lâm Đồng… đến nay rừng của Liên tông Tịnh độ Non Bồng đã lên đến trên ngàn hecta, theo tinh thần tự trồng tự hưởng. Ni trưởng Phát triển trồng rừng, vừa để tạo lập nền kinh tế lâm nghiệp cho nhà chùa, vừa góp phần trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo môi trường sống cho thiên nhiên và con người.

Ngày 18/7 năm Bính Dần (1986), bệnh cũ tái phát, các đệ tử đưa Ngài vào bệnh viện để điều trị. Vào lúc 22 giờ 30, ngày 30 tháng 07, vì tuổi già sức yếu, Ngài biết bệnh không thể qua khỏi nên đã dạy đệ tử đem về Quan Âm Tu viện. Vào lúc 23 giờ, Hòa thượng mãn nguyện độ sanh, xả báo thân, trở về tiêu dao miền Tịnh cảnh.

Lời kết

Hàng năm vào những ngày 28-30/7 và sáng mùng 01/8, con cháu trong Tông phong ở khắp mọi miền đất nước đều tụ hội về Quan Âm Tu viện để dự lễ Húy kỵ, tưởng nhớ đến công đức cao dày của Hòa thượng Thiện Phước. Số người về tham dự lễ trong những ngày này thật không sao đếm hết được, lễ Húy kỵ của Hòa thượng đã trở thành lễ hội lớn của con cháu trong Tông phong Liên tông Tịnh độ Non Bồng.

Hòa thượng Thiện Phước thị tịch đến nay đã 33 năm, nhưng con thuyền Liên tông Tịnh độ Non Bồng, dưới sự lèo lái của Ni trưởng Huệ Giác, vẫn luôn hoạt động và không ngừng phát triển, với trên 1.294 Tăng Ni an trú tu học trong 179 tự viện phân bố khắp Trung, Nam và một số ít ở miền Bắc. Tăng Ni Tông phong tu học theo đường lối của Liên tông Tịnh độ Non Bồng, đối với Đạo pháp và Dân tộc, Tăng Ni, Phật tử ở mỗi địa phương đều tích cực tham gia các công tác xã hội và các hoạt động Phật sự góp phần xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một phát triển.

Đinh Thị Yến – Thích Nữ Hiền Nghĩa
Học viên Cao học, HVPGVN tại TP.HCM

Tài liệu tham khảo
1. Thích Minh Châu dịch (1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương I Một Pháp XVI, Phẩm Một Pháp, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 64.
2. Diệu Thọ (1965), Khóc về Bồng Đảo, viết ngày 29/8/1965 tại Nhất Nguyên Bửu tự ở Bình Dương, lưu hành nội bộ.
3. Bùi Tấn Huy – Thích Thiện Huy (2018), Tiếp nối tinh thần chấn hưng Phật giáo của HT. Khánh Hòa Phật học đường Tây phương Bồng Đảo – Trường Trung Tiểu học Lâm Tỳ Ni hình thành, phát triển, Tham luận Hội thảo Khoa học Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam.
4. Trần Hồng Liên (2018), Học tập tinh thần linh hoạt sáng tạo của Ni trưởng Huệ Giác, Đặc san Hoa Đàm số 53.
5. Trần Hồng Liên (2018), Tinh thần tri ân và báo ân, Đặc san Hoa Đàm số 54, tr. 67.
6. Thích Giác Quang (2016), Liên tông Tịnh độ Non Bồng 57 năm hình thành và phát triển, NXB. Hồng Đức, TP.HCM.
7. Giác Quang (2016), Hoa sen bên núi xưa, lưu hành nội bộ.
8. Thích Giác Quang (2019), Pháp phái Liên tông Tịnh độ Non Bồng, NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
9. Quan Âm Tu viện (2006), Tiểu sử đức Tăng chủ Tôn sư Hòa thượng thượng Thiện hạ Phước húy Nhật Ý, lưu hành nội bộ.
10. Quan Âm Tu viện (2007), Sử yếu Tổ đình Linh Sơn, lưu hành nội bộ.
11. https://hoavouu.com/a22466/a-ngai-long-tho-va-tu- tuong-tinh-do, truy cập 14 giờ 33 phút ngày 10/01/2019.


  1. Theo Nho học, một trong những trách nhiệm của con cháu đối với liệt tổ liệt tông là phải sanh con trai để nối dõi dòng họ, nếu không có con nối dõi gia phong là một trong những tội đại bất hiếu đối với ông bà tổ tiên.
  2. Giác Quang (2019), Pháp phái Liên tông Tịnh độ Non Bồng, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 67.
  3. Sđd, tr. 67.
  4. Trong kinh Trung A Hàm số 202, kinh Trì Trai, tương đương với kinh Visakha-sutta, Tăng Chi Bộ, Đức Phật giảng cho cư sĩ Tỳ Xá Khư tại nước Xá Vệ, trong Đông Viên, giảng đường Lộc Tử Mẫu, cũng có đề cập đến pháp môn niệm Phật, là một trong năm pháp tu tập hỗ trợ Bát quan trai giới, nhờ niệm Phật mà tâm được an tịnh, mọi tâm lý bất thiện đều được tiêu diệt.
  5. HT. Thích Minh Châu dịch (1996), Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương I Một Pháp XVI. Phẩm Một Pháp, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 64. Nguyên bản Pali: Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca.
  6. Về niên đại ra đời của Ngài cũng có các thuyết khác nhau:Về niên đại ra đời của Ngài cũng có các thuyết khác nhau: – Theo bài tựa của Luận Đại Trí Độ của Ngài Tăng Duệ và các bài tựa Đại Trí Luận sao của Ngài Lô Sơn Tuệ Viễn (chép trong Xuất Tam Tạng ký tập quyển 10) thì Ngài ra đời khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt (khoảng năm 276). – Theo Bách Luận Sớ quyển thượng, Ngài sinh vào khoảng 530 năm sau khi Đức Phật nhập diệt (năm 94 trước Tây lịch). – Theo Tam Luận Du ý nghĩa, Nhị Giáo luận của Ngài Đạo An, Long Thọ Bồ tát truyện…, Ngài ra đời vào khoảng 880 năm (năm 256), sau khi Đức Phật nhập diệt, tức là vào giữa thế kỷ thứ III Tây lịch. Các học giả hiện đại như Pháp sư Ấn Thuận,… phần nhiều theo giả thuyết thứ 3. (https://hoavouu.com/a22466/a – ngai – long – tho – va – tu – tuong – tinh – do, truy cập 14:33 ngày 10/01/2019).
  7. Ngài là một vị Tổ sư của Đại thừa gồm 8 Tông phái khác nhau, về sau Tịnh độ tông của Nhật Bản, bắt đầu từ thế kỷ XIII cũng đã căn cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận của Bồ tát Long Thọ trước tác mà tôn Ngài là Sơ tổ của Tịnh độ tông Nhật Bản.
  8. Đây là nói về giai đoạn Tịnh độ phát triển thịnh hành ở Trung Hoa, đã trở thành Tông phái chuyên tu Tịnh độ, còn các kinh điển nói về pháp môn Tịnh độ thì đã được truyền đến Trung Hoa từ trước đó rất lâu. Năm 185, có Tăng sĩ Khương Tăng Khải (Saṃghavarman) người Ấn Độ đến Trung Hoa và dịch kinh Vô Lượng Thọ (Sukhāvativyṅha sūtra), hai quyển. Năm 401, Ngài Cưu Ma La Thập đến Trung Hoa và dịch kinh từ năm 403, trong số kinh điển Ngài dịch sang Hán văn có kinh A Di Đà (Sukhāvati Vyūha sūtra). Năm 424, một Tăng sĩ khác là Cương – lương – gia – xá (Kālayasa) đến Trung Hoa và dịch sang Hán Văn kinh Quán vô lượng thọ ( Amitāyur – Dhyāna – sūtra ). Như vậy là từ cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V ở Trung Hoa đã có đủ bản dịch Hán văn 3 bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông.
  9. 10.Chùa Phật Tích còn là nơi nhà vua thường tổ chức khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ) cho các sĩ tử.
  10. Thích Giác Quang (2019), Pháp phái Liên tông Tịnh độ Non Bồng, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 64 – 65.

BÀI VIẾT MỚI

  • Nên Thờ Cốt Vong Nhi Ở Đâu?
  • Nạo Phá Thai Và Nhân Quả - Nên Cầu Siêu Và Thờ Cúng Vong Nhi Như Thế Nào?
  • Đồng Nai: Ngày Thứ 2 Lễ Huy Kỵ Lần Thứ I Hòa Thượng thượng Giác hạ Quang.
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thích Giác Quang (Khai kinh, cúng Tiên Thường, tụng Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và Nhiễu Tháp Niệm Phật)
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026

Danh sách tin tức

  • Nên Thờ Cốt Vong Nhi Ở Đâu?
  • Nạo Phá Thai Và Nhân Quả - Nên Cầu Siêu Và Thờ Cúng Vong Nhi Như Thế Nào?
  • Đồng Nai: Ngày Thứ 2 Lễ Huy Kỵ Lần Thứ I Hòa Thượng thượng Giác hạ Quang.
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thích Giác Quang (Khai kinh, cúng Tiên Thường, tụng Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và Nhiễu Tháp Niệm Phật)
  • Đồng Nai: Lễ Húy Kỵ Lần thứ nhất Hòa thượng thượng Giác hạ Quang 04.04.2026
  • Chương Trình Lễ Huý Kỵ Hoà Thượng Ân Sư
  • Hành Trạng Đức Sư Ông Thượng Bửu Hạ Đức (1880 – 1974) Chứng Minh Đạo Sư Tông Phong Tịnh Độ Non Bồng
  • Bóng Mây Trên Đỉnh Non Bồng
  • Gia Đình Nghèo Khó Nên Cầu Siêu Như Thế Nào Cho Tròn Đầy Ý Nghĩa?
  • Chương Trình Lễ Húy Kỵ Hòa Thượng Thượng Giác Hạ Quang
    HT Thượng Bửu hạ Đức, HT Thượng Thiện hạ Phước
    NT Thích nữ Thượng Huệ hạ Giác, HT Thích Giác Quang
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn
    Cung Thỉnh Xá Lợi Đức Tôn Sư (32)
    Cái Đẹp Của Người Tu

CHƯ TÔN ĐỨC NON BỒNG

  • Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức
    Hành trạng Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức

    Hành trạng của Đức Sư Ông thượng Bửu hạ Đức chứng minh đạo sư Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (1880-1974)  

    Chi tiết
  • Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước
    Đức Tôn Sư Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Phước

    Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng THIỆN hạ PHƯỚC húy NHỰT Ý, dòng LÂM TẾ thứ 41, Sáng lập và là Tông chủ môn phong pháp phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng.

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước
    Tiểu Sử Đức Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thiện hạ Phước

    Chi tiết
  • Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành
    Hòa Thượng thượng Thiện hạ Thành

    Chi tiết
  • Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng
    Tiểu sử Hòa Thượng Thích Thiện Hồng

    Chi tiết
  • Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng
    Kỷ Yếu Tang Lễ Hòa Thượng Thích Vạn Hùng

    Chi tiết
  • Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
    Tiểu Sử Của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Tài Viện Chủ Chùa Linh Bửu Quận 8, Tp Hồ Chí Minh

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa
    Ni Trưởng Thích nữ Diệu Hòa

    Tiểu sử Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Hòa húy Trung Viên trụ trì Tổ Đình Linh Sơn

    Chi tiết
  • Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác
    Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Giác

    Chi tiết
  • Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.
    Tiếu Sử Ni sư Thích Nữ Diệu Huệ, Trung Bửu Tự.

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

CÁC NGÔI TỰ VIỆN NON BỒNG

  • Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh
    Tổ Đình Linh Sơn - Núi Dinh

    Tổ Đình Linh Sơn nằm bên sườn Tây núi Dinh, ngọn núi này nằm trong dải Bao Quan. Trên bản đồ địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đỉnh Bao Quan chỉ cách Thị Xã Bà Rịa khoảng 10 km đường chim bay và nằm về phía Tây Nam của Thị xã.

    Chi tiết
  • Tổ Đình Quan Âm Tu Viện
    Tổ Đình Quan Âm Tu Viện

    Quan Âm tu viện tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tu viện được Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn Hóa tôn giáo công nhận là di sản văn hóa Phật giáo tỉnh Đồng Nai ngày 15/3/2016, được Ban Tôn giáo Chính phủ ra quyết định tặng Giấy khen “Có thành tích trong công tác từ thiện xã hội và góp phần bảo vệ văn hóa tôn giáo” ký ngày 02/12/2016.

    Chi tiết
  • Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.
    Tịnh xá Bửu Sơn, Định Quán, Tỉnh Đồng Nai, cũng là cơ sở bảo trợ Hoa Sen Trắng.

    Chi tiết
  • DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng
    DS Tự Viện trong Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng

    Chi tiết
  • Xem tất cả >>

LỄ HÚY KỴ LẦN THỨ 1 HT THÍCH GIÁC QUANG

CÁC WEBSITE PHẬT GIÁO

  1. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  2. Báo Giác Ngộ 
  3. Ban Tôn Giáo Chính Phủ
  4. Đặc san Hoa Đàm
  5. Phật Giáo Tp. Biên Hoa
  6. Phật sự online
  7. Đạo Phật Ngày Nay
  8. Phật Giáo Đồng Nai

    Không có video thuộc chủ đề này.
Mừng Xuân Di Lặc 2019
Banner header
Kỷ Niệm Lễ Xuất Gia Đức Thầy (2019)
Phát quà Tại Tổ Đình Thành An Tự
Phát quà từ thiện
Phát quà cho đồng bào ở Tây Bắc
Trồng cây
Phát quà từ thiện

Footer

QUAN ÂM TU VIỆN
2567 Nguyễn Ái Quốc, phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0933045996 - 0908192876
E-mail: lientongtinhdo@gmail.com
Copyright ©