Gương Lành Thánh Thiện
Ni trưởng Thích nữ Huệ Giác là bậc xuất gia tuy mang báo thân là nữ lưu, nhưng bản tính linh tri của Người có khả năng hoằng pháp lợi sinh có một không hai tại Việt Nam. Ni trưởng là một nữ lưu linh hoạt xuất chúng vượt ngoài suy tư của đại chúng, không chạy theo sự đánh giá của thế nhân, phàm phu. Người đã vượt qua mọi gian lao thử thách gian nguy khó khổ, để tiến đến thành công nơi phía trước dành cho Đạo pháp và cho chúng sanh chung.
Ni trưởng cũng là một bậc đạo sư khả kính, nhà đạo hạnh hiếm có đối với Tăng Ni trong Tông môn hay ngoài Tông môn đều tỏ lòng tôn trọng kính mộ.
Đứng trên phương diện Đại Thừa giáo, sống bằng linh tri trực giác và công hạnh Bồ Tát, chúng ta không thể phủ nhận một bậc Đạo sư, một thiện tri thức dùng “phương tiện môn” nhập thế độ sanh trợ duyên cho hàng Thích tử bước vào đạo giới tu hành đến thành công đắc quả.
Ngoài trọng trách hoằng dương chánh pháp, nhập thế độ sanh, Ni Trưởng còn nhiếp độ rất nhiều đệ tử, giáo huấn đệ tử mình với muôn ngàn công hạnh bồ tát lợi tha. Với tinh thần lấy chúng sanh để lập nên công hạnh Bồ Tát nên đa số các vị đệ tử đều dấn thân mạnh mẽ, lập các cô nhi viện, viện dưỡng lão, đem ánh sáng cho người khiếm thị, đem Phật pháp tới vùng sâu vùng xa…
Ni Trưởng rất có ý thức trong công tác hoằng pháp, khéo khuyến thiện những người bất thiện, tiếp nhận những người tu yêu nước, yêu dân tộc, khuyến tấn mọi người không làm tổn hại nước non, phải tu sao cho đúng nghĩa với vai trò tu sĩ Phật giáo “Hộ Quốc An Dân”
Ni trưởng là bậc tôn sư của chúng tôi, người dẫn lối đưa đường chỉ bảo chúng tôi hành thiện. Người hằng dạy chúng tôi rằng: “Là những người con của Phật, ngoài trách nhiệm hoằng dương chánh pháp, tất cả chúng ta còn luôn sẵn lòng đem tình thương và nguồn an vui đến với chúng sanh… chỉ mong sao xoa dịu được những nỗi đau thương và đem lại chút niềm an vui cho cuộc đời”.
Không chỉ vậy, Ni trưởng còn dạy chúng tôi cách tạo điều kiện để sanh khởi lòng từ bi, Ni trưởng bảo rằng: “Con người vì áp lực của cuộc sống đè nặng nên khó phát khởi được lòng tốt tự nhiên của mình. Cần phải chứng kiến tận mắt nỗi, sự bất hạnh của tha nhân để phát khởi lòng từ bi vô lượng. Sau khi chứng kiến các cháu bị mù, bị câm, bị điếc, bị dị tật chân tay sinh hoạt khổ sở như thế nào, ai ai cũng tự nguyện đóng góp tiền, sách bút. Cuộc sống có nhiều lo toan bận rộn nhưng khi đã được chứng kiến tận mắt những mảng đời bất hạnh thì những tấm lòng nhân ái sẽ dễ dàng mở rộng cho những nghĩa cử cao đẹp, không mảy may toan tính thiệt hơn”. Đó là một cách giáo dục lòng bi mẫn trong tâm hồn của mỗi con người, đặc biệt là giới trẻ biết sống và quan tâm đến mọi người đang khó khăn, đau khổ.
Về công hạnh tu tập, Ngài thường chỉ dạy các vị môn đệ của mình “Này con ạ, chí có bền Đạo mới thành, thệ nguyện bền Đạo mới viên mãn, tín hạnh tròn xong phước quả mới tròn đầy…Khi con nguyện cho con nhớ làm gì, con hứa gì dù có khó thế mấy con cũng phải cố gắng làm để được kết quả tốt đẹp, chịu cực, chịu khó tầm chơn lý, hiến thân vì chánh pháp, phục vụ quần chúng không tiếc rẽ, một lòng cầu đạo vô thượng bất thối chuyển, chí hướng cầu vãng sanh không lui sụt, quyết thấy Phật, làm Phật thể hiện chơn tánh Như Lai. Như vậy con có bền chí, chí vững chắc, con mới có thể thành Phật được, báo ân chư Phật mười phương, cha mẹ tại tiền cùng tất cả chúng sanh”[1].
Về tinh thần xiểng dương trí tuệ, Người dạy “Con phải học rộng để hiểu biết Phật pháp thâm sâu huyền diệu, phá tánh mê mờ, diệt phiền não, nhờ học hiểu, con chừa bỏ tội lỗi, sớm cỡi mở cõi lòng, biết thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau, xóa bỏ hận thù, siêng làm việc lành, lánh chừa điều dữ. Biết rõ đâu là tà, đâu là nẻo chánh. Sự học hỏi mở rộng trí huệ, kiến thức, con nhận xét, hiểu biết chơn chánh, thực hành, giúp đỡ chơn chánh”. Hay “Dù làm, dù tu con cũng tinh nghiêm, tĩnh tịch. Giúp đỡ, khuyên dạy người đúng phép, không lầm mê. Như vậy chủng bồ đề con sớm viên thành. Phật quả giải thoát con cận gần bờ. Thì còn lo chi liên hoa thắng hội con chẳng đặng ra mắt Từ Tôn”… “Này con ơi, đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó bởi tại lòng người ngại núi e sông, nên thầy khuyên con cố gắng sửa lòng, trau dồi trí huệ, thật đức tu hành, khó khổ trọn tu một kiếp thôi.” Thấy rõ rằng, trong tinh thần tu học tinh nghiêm, Ni Trưởng cũng không quên nhắc nhở hàng môn đệ ngày càng nâng cao trí tuệ chơn chánh của mình, như ánh dương thoát ra khỏi mây mù, lợi lạc quần sanh.
Có vị Sa môn hỏi Đức Phật rằng:
"Điều gì là mạnh nhất? Điều gì là sáng nhất?" Đức Phật dạy: "nhẫn nhục là mạnh nhất vì không chứa ác tâm nên tăng sự an ổn. Nhẫn nhục là không ác, tất được mọi người tôn kính, tâm ô nhiễm đã được đoạn tận, không còn dấu vết gọi là sáng nhất, nghĩa là tất cả sự vật trong 10 phương, từ vô thỉ thuở chưa có trời đất cho đến ngày nay không vật gì là không thấy, không vật gì là không biết, không vật gì là không nghe, đạt được Nhất thiết trí, như vậy được gọi là sáng nhất".[2] Chúng ta thấy rõ, trong Phật giáo “nhẫn nhục” không phải là sự bi lụy, yếu đuối, chấp nhận thua cuộc, trái lại nhẫn là một thái độ tích cực, rất sáng suốt do trí tuệ dắt dẫn, khi vấp phải những thất bại không chán nản tuyệt vọng, đạt được thành công không kiêu căng tự đắc, không ngoài ý nghĩa trên, Người cũng dạy “Con ạ, bao nhiêu điều ở trên là quan trọng, nhưng gồm thâu trong chữ kham nhẫn, chịu khó mà thôi, nếu lãnh thọ nhiều mà không kham nhẫn, chịu khó để làm thì chẳng có lợi ích gì. Con nên nhẫn những việc gì khó nhẫn, làm những việc khó làm, kham chịu những điều khó kham chịu, mở rộng cửa lòng thênh thang hòa với chơn như Phật tánh của mình, liễu pháp tứ đại vô thường, ngũ uẩn giai không. Thân này có chi mà đau khổ, tâm này có chi mà phải buồn phiền, các pháp hư huyễn, vọng sanh có chi sanh cố chấp, ngã tánh không tướng hình, làm gì phải có mình mà ủ ê buồn bã. Quán như vậy, suy nghĩ như vậy rồi vui sống với chơn lý, không chút lãng quên, thân nương trần tục, tâm lìa thế gian, liên hoa thắng cảnh sẵn sàng, đài sen rực rỡ tay vàng rước con.”
Qua những gương hạnh mô phạm, lời giáo huấn thiết tha trên, tâm lòng giáo dưỡng hàng môn đệ của mình cách tinh nghiêm như vậy thật xứng danh là bậc Tôn sư đáng tôn kính, ngưỡng mộ trong thế gian hy hữu.
