Áo nâu dà siêu thoát
.png)
Ni trưởng Thích Nữ Huệ Giác là người mà tôi hết sức kính quý vì đức độ tu hành, đời sống phạm hạnh lẫn đạo phong cốt cách. Cuộc đời tu tập của Ni trưởng nổi bật ở sự dấn thân và cống hiến, làm lợi lạc nhân sinh, đem giáo pháp của Đức Phật để ban vui cứu khổ cho nhiều người. Công hạnh của Ni trưởng Huệ Giác to lớn, nhưng nhiều lần tiếp xúc, Sư bà chẳng bao giờ nhắc đến những thành quả ấy bởi đức độ khiêm cung, chỉ những ai hữu duyên mới hiểu rõ mật hạnh của Già – cách gọi tôn kính của Tăng, Ni Tông phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng dành cho Ni trưởng. Vì thế, một vị nữ Phật tử đã viết hai câu thơ nói lên sự thong dong, tự tại cũng như tinh thần siêu phương thoát tục của Ni trưởng Huệ Giác:
Áo nâu dà siêu thoát
Gậy thiền đùa mây trôi.
(Thân Thị Ngọc Quế)
Thật là phúc duyên, cá nhân tôi được diện kiến Ni trưởng ba lần. Mỗi lần gặp là một bài pháp sống động, sâu sắc mà tôi được học từ Sư bà Huệ Giác. Còn nhớ, lần đầu tiên, tôi gặp Già vào buổi sớm tinh mơ tại Chùa Hội An – nơi đang diễn ra Đại lễ Tưởng niệm Tổ Kiều Đàm Di và chư Ni tiền bối hữu công trong Thành phố Mới tỉnh Bình Dương. Già ngồi bên hiên chùa để chuẩn bị bước vào buổi lễ chính. Tôi vội vàng đến xá và chào, Ni trưởng hỏi thăm về công việc cá nhân. Nhân đó, tôi tán thán công hạnh trồng rừng của Già và tông phong. Già trầm ngâm, gật đầu và nói đại ý: Trước giờ Già chỉ muốn Tăng Ni tông phong chuyên lo tu học, làm ích đời lợi đạo chứ chẳng muốn xiển dương công hạnh chi cả, cái đó là chuyện của người đời, ai thấy tốt thì khen. Sau đó, tôi xin Ni trưởng cho lời khuyên. Người nhìn thẳng vào tôi và dạy rằng: Người trí thức muốn thăng hoa sự nghiệp phải biết khiêm tốn, dẹp bớt cái ngã của mình bởi suy cho cùng những hiểu biết, kiến thức mà mình sở đắc cũng chỉ là hữu hạn, thật nhỏ bé giữa biển đời mênh mông, vô tận. Và lần thứ hai, khi lang thang trong hành lang Cung Hữu Nghị Việt – Xô (Hà Nội) – nơi diễn ra Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ tám, tôi bất chợt thấy Ni trưởng ngồi một mình ngay cửa ra vào trong buổi chiều đông. Dáng Già ngồi đĩnh đạc, như phong thái của bậc long tượng thiền môn. Tôi đến bên Già để chào và thăm hỏi. Già nói chuyện thật hiền từ, miệng nở nụ cười nhân hậu, lan tỏa năng lượng an lành. Ni trưởng hỏi: “Con ở đâu mà biết Già?” Tôi liền thưa: “Con ở Sài Gòn ra, có gặp Ni trưởng mấy lần và cũng hay lên Quan Âm Tu viện viếng chùa”. Già gật đầu rồi lấy tay xoa đầu tôi. Sau đó, thị giả đến và dìu Ni trưởng xuống hành lang để về khách sạn nghỉ ngơi. Tôi đứng nhìn phía sau mà tâm hoan hỉ vô cùng về cuộc gặp gỡ này. Nhìn từ xa, mặc dù tuổi cao đã ngoài tám mươi, nhưng dáng đi của Ni trưởng vẫn uy nghi, điềm đạm, khiến ai thấy cũng phải cung kính.

Một vị Tăng trẻ ở Quan Âm Tu viện có lần nói với tôi rằng: Dáng đi Sư bà Huệ Giác như tướng Sư tử. Vì vậy, uy lực nhiếp chúng của Già rất lớn. Cho nên, Tăng Ni trên dưới tại Tông phong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng nhất mực kính phục, y giáo phụng hành từ lời chỉ dạy của bậc Thầy lãnh đạo tinh thần hơn ba mươi năm qua. Hiện nay, Tông phong gồm có 185 cơ sở tự viện với 1.252 Tăng Ni và rất nhiều Phật tử tu tập Pháp môn niệm Phật.
Gần đây nhất, lần thứ ba, tôi vinh hạnh được Hòa thượng Giác Quang hướng dẫn đi thăm Ni trưởng tại Bạch Tịnh Am – ngôi thiền thất đơn sơ được làm bằng gỗ của Già trong khuôn viên Quan Âm Tu viện nhân Lễ húy nhật Đức Tôn sư khai sáng Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng – Hòa thượng Thiện Phước – Nhựt Ý lần thứ 31. Đi cùng tôi là chị Vũ Ngọc Quỳnh (Diệu Như) – một Phật tử thâm tín Tam bảo từ Hồng Kông về nước. Trong thiền thất, Ni trưởng ngồi thẳng lưng, thế kiết già trên chiếc đơn nhỏ, thần thái tinh anh và nhanh nhẹn. Tôi quan sát kỹ, thấy bên cạnh đơn là trang thờ Hòa thượng Thiện Phước bằng gỗ, bức tượng bằng đá Bồ tát Phổ Hiền và bức tranh Quan Âm Tara xanh – quà tặng của Hội nghị Sakyadhita lần thứ 16 do tôi mang từ Úc về để nhờ Hòa thượng Giác Quang dâng tặng Ni trưởng với ước nguyện cầu mong Bồ tát gia hộ cho Ni trưởng được tăng long phước thọ. Cho nên, khi nhìn thấy bức tranh này được đặt kề chiếc đơn của Già, tôi cảm thấy mình thật hữu duyên với Ni trưởng Huệ Giác. Ni trưởng tiếp chúng tôi rất vui vẻ và bảo ngồi ghế bên cạnh. Gần nửa tiếng đồng hồ, Già hỏi thăm công việc, hoàn cảnh cá nhân từng người rồi nói về Phật pháp, về hạnh nguyện tu hành của mình. Một lúc, Ni trưởng đột ngột nhìn và hỏi tôi: “Thế chú Hoàng Lộc mỗi tháng ăn chay được mấy ngày?” Tôi ngập ngừng đáp: “Dạ thưa Ni trưởng! Con đụng đâu ăn đó. Có ngày thường thì ăn chay, nhưng gặp ngày rằm mà bận công việc thì cũng ăn mặn”. Ni trưởng nói tiếp: “Từ nay về sau, chú phải cố gắng ăn chay mỗi tháng bốn ngày!” Tôi chắp tay cung kính nghe theo lời dạy của Già. Giữa không gian tĩnh lặng của Thiền thất, Ni trưởng nhìn về phía ngoài cửa sổ rồi từ tốn nói: “Người ta hay nói ăn mặn mà không trực tiếp sát sanh là tam tịnh nhục. Nhưng Già biết để có mấy thứ đó thì con gà phải cắt cổ, nhổ lông, mổ bụng rồi bỏ vào nước sôi, con dê thì đập đầu, xẻ thịt để nấu nướng. Thấy sợ không hả chú? Mỗi lần ăn cá thịt thì ráng quán sát vậy mà giảm bớt”. Ni trưởng nói đến đây, tôi chỉ biết thọ lãnh, y giáo lời chỉ dạy này. Một lần nữa, tôi được học ở Ni trưởng bài pháp về lòng từ bi một cách đơn giản mà sâu sắc nhất, trước nay chưa hề gặp. Trước khi ra về, Già nhìn chúng tôi rồi nói: “Trên đời này không có cái gì là thật, chỉ là giả tạm hết. Cho nên, các con sống sao phải có tâm và đức để tích thêm tư lương cho mình”.

Chúng tôi may mắn được Già ân cần nắm tay từng người, bàn tay của Già mềm mại và ấm áp vô cùng! Sau này, tôi có kể lại câu chuyện gặp Già với Sư cô Diệu Trí (Trụ trì Đại Giác Cổ tự, Thành phố Biên Hòa). Sư cô nói chúng tôi có phước mới được Ni trưởng tiếp lâu như vậy (khoảng nửa tiếng). Trước nay, Ni trưởng Huệ Giác luôn nói thẳng vào thực tướng, đúng Chánh pháp, lời nói có tính khai thị và cái nhìn thấu suốt cho những ai hữu duyên được tiếp xúc, trò chuyện. Sư cô Diệu Trí nói thêm: “Phật giáo Đồng Nai có hai vị Tông trưởng còn tại thế, là niềm tự hào và kính ngưỡng của Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước. Đó là Hòa thượng Thích Thanh Từ – Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Ni trưởng Thích Nữ Huệ Giác – Tông trưởng Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Theo tôi, đây là những tông phái của Phật giáo Việt Nam tu hành cẩn mật, nghiêm trì Giới luật, được nhiều người kính nể về đạo hạnh.
.png)
Không chỉ hữu duyên ba lần gặp Ni trưởng Huệ Giác, tôi nhiều lần được nghe Ni sư Lan Nhã và Ni sư Hương Nhũ kể lại nhiều câu chuyện về Ni trưởng trong niềm tôn kính và lắng đọng nhiều kỷ niệm sâu sắc! Thế mới biết Ni trưởng còn là một bậc mô phạm đối với hàng môn đồ đệ tử. Một buổi tối cận Tết năm kia, Ni sư Hương Nhũ ngồi kể cho tôi nhiều mẩu chuyện về lòng từ bi của Già trải đến với mọi vật, từ cây cỏ cho đến các loài chó, mèo, chim chóc hoang. Những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng của Thiên Quang Ni tự do Ni sư Hương Nhũ khởi xướng bắt nguồn từ những bài học về lòng từ bi của Ni trưởng Huệ Giác dành cho người đệ tử của mình lúc đầu mới bước vào chùa tu tập. Thỉnh thoảng, hai hàng nước mắt của Ni sư lăn dài khi nhắc về vị Thầy khả kính. Điều lắng đọng trong tôi nhất là Ni trưởng Huệ Giác đã hướng dẫn cho người đệ tử của mình thực hành lòng từ bi bắt đầu từ các con vật dơ bẩn, bệnh tật và gớm ghiếc. Không biết chăm sóc loài vật thì làm sao biết chia sẻ, tha thứ và yêu thương những thân phận con người bất hạnh trong xã hội. Mỗi lần đến thăm Bửu Hoa Ni viện – ngôi chùa nằm khuất bên trong Quốc lộ 51, thuộc địa bàn xã Phước Thái, huyện Long Thành là tôi được Ni sư Lan Nhã kể thêm nhiều câu chuyện dấn thân trồng rừng của Ni trưởng Huệ Giác, bất kể những gian lao và khó nhọc, để ngày nay chùa Bửu Hoa có hơn 40 hecta rừng xanh thẫm, mát rượi. Tôi vẫn ấn tượng mãi bài thơ do đích thân Ni trưởng ứng khẩu sáng tác tại đây năm nào được Ni sư Lan Nhã đọc lại với giọng bổng trầm:
Rừng là tài sản quý của quốc gia ta
Rừng là tài nguyên giàu mạnh của nước nhà
Rừng là hệ cây xanh bóng mát
Làm đẹp tòng lâm thắng cảnh văn hóa sử Việt Nam
Nên Ni giới Bửu Hoa Phước Thái tự nguyện gây dựng vườn rừng
Phủ đồi trọc xanh màu cây rừng hoa lá trái
Ruộng rẫy xanh màu khoai bắp lúa đậu.
.png)
Có lần, tôi hỏi Ni sư Như Nguyệt (Chùa Huê Lâm) đại ý trên thế giới trước nay có vị Ni nào trồng cây giống như Ni trưởng Huệ Giác hay chưa. Ni sư trả lời là chưa thấy có vị nào trồng nhiều và qui mô lớn như Ni trưởng Huệ Giác. Tìm hiểu mới biết những năm sau ngày giải phóng đất nước, Ni trưởng chủ trương cho toàn bộ Tăng Ni trong tông phong nhận đất rừng, rẫy và cả những ngọn đồi trọc để trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc từ miền Đông Nam bộ cho đến Tây Nguyên và cả miền Trung nắng rát. Nhờ đó, ngày nay tông phong này sở hữu gần 1.000 ha đất rừng, góp phần vào việc bảo vệ môi trường sinh thái đứng trước nguy cơ bị hủy hoại bởi nạn phá rừng của con người. Ni trưởng khởi xướng trồng rừng để tạo điều kiện cho Tăng, Ni tự túc kinh tế, trực tiếp tham gia bảo vệ sự sống của muôn loài. Nhưng tôi lại nghĩ thêm rằng, phải chăng việc làm của Ni trưởng còn hướng đến việc thiết lập cõi Tịnh Độ trang nghiêm thù thắng ở chốn nhân gian này? Một lần, lang thang giữa cánh rừng của Bửu Hoa Ni Viện, tôi đắm mình giữa màu xanh mướt của cây cối, ngắm nhìn các sắc màu rực rỡ của hoa trái và thỉnh thoảng lắng nghe tiếng chuông ngân nga hòa cùng tiếng mõ bổng trầm, tiếng chim hót khẽ để rồi thấy tâm mình vắng lặng, an nhiên lạ thường. Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật từng thuyết về thế giới Tây Phương Cực lạc: “Cõi nước của Phật A Di Đà thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp là thường, nào chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng. Những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã”. Một đoạn khác, Phật thuyết tiếp: “Trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.”
Trong cuộc đời tu hành của mình, Ni trưởng Huệ Giác vừa thực hành lòng từ bi vô bờ bến của Bồ tát Quán Thế Âm đến mọi loài vừa thể hiện trọn vẹn hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền đối với Phật pháp cũng như nhân sinh. Cho nên, những ai hữu duyên được gặp và được lắng nghe lời pháp của Ni trưởng đều hoan hỉ và tỏ lòng cung kính, bất kể thành phần xã hội nào. Đó là phước đức hiện tiền theo như Phật dạy:
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất.
(Kinh Phước Đức)
.png)
Xin được kết thúc bài viết này bằng bài thơ mà tôi nhiều lần đọc và xúc động của Bà Thân Thị Ngọc Quế viết tặng Ni trưởng Huệ Giác:
Người về bên núi hồn như núi
Thanh thoát trưa vàng ngân tiếng ve
Sớm biết Kim Cang cành trúc lắng
Ngày vang Bát nhã bóng chiều nghe
Yêu sao mây sáng vùng cây ngát
Nhớ mãi xuân tàn lối mộng che
Dù biết bồ đề cơn gió thoảng
Vẫn thương nhành cỏ giọt sương hè.
Dương Hoàng Lộc
